|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 204/2024/DS-PT Ngày 24-04-2024 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Tấn Lợi
Ông Nguyễn Ngọc Vạng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Đỗ Trung Đến,
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26/3, 17/4 và 24/04/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 406/2023/TLPT-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 85/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Đào Hải L, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đào Hải L: Chị Nguyễn Thị Thùy L1, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo hợp đồng ủy quyền ngày 11/12/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Đào Hải L: Luật sư Võ Thị Băng G, Văn phòng L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Tổ 1, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị T: Ông Trần Đình H, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số nhà B, N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo hợp đồng ủy quyền ngày 20/7/2023).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B (Nguyễn Thị T1), sinh năm 1947;
Địa chỉ: Tổ 1, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B: Ông Trần Đình H, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số nhà B, N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo hợp đồng ủy quyền ngày 20/7/2023).
* Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T là bị đơn, bà Nguyễn Thị B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Chị Nguyễn Thị Thùy L1 là người đại diện cho nguyên đơn là ông Đào Hải L trình bày:
Ông, bà của ông L có diện tích đất 3.250m² do ông Trương Văn C (tên gọi khác là Đào Tấn H1) đại diện gia đình đứng tên trong giấy chứng nhận QSDĐ. Đến ngày 13/8/1997, ông Trương Văn C, bà Nguyễn Thị T1, ông Đào Hải L và một số người khác trong tộc họ thỏa thuận chia diện tích đất trên làm 04 phần gồm Đào Thị P (Mẹ bà B), Đào Thị K, Đào Ngọc H2 và Đào Ngọc B1, cụ thể như sau:
- Phần thứ nhất ở phía Đông (nay là thửa 2591) phần ngoài cùng chia cho bà Đào Thị P.
- Phần thứ hai kế đất bà P (nay là thửa 2591) chia cho Đào Thị K em ruột bà P nhưng bà K vẫn để cho ông C hưởng để thờ cúng ông, bà.
- Phần thứ ba kế đất bà K (nay là thửa 2587 và một phần thửa 2590 của Đào Hải S con ông L) chia cho Đào Ngọc H2 nhưng ông H2 giao cho ông L con ông H2 quản lý, sử dụng. Trong phần này bao gồm cả khu mộ phía Bắc giáp ông Năm Đ hiện nay là thửa 954 được làm để chôn cất người thân trong gia đình nhưng vẫn thuộc phần chia của ông H2.
- Phần thứ tư kế tiếp giáp đất ông H2 (hiện nay là thửa 2590) thì chia cho Đào Ngọc B1 (chú ruột của ông L). Phần này tạm giao cho ông L quản lý trong 10 năm nếu sau này con cháu của ông B1 không về nhận đất thì ông L được quyền quản lý sử dụng luôn.
Tờ tương phân ngày 13/8/1997, do ông Trần Văn P1 viết có ông Trương Văn C, ông Đào Hải L, bà Nguyễn Thị T1 (Nguyễn Thị B), bà Đào Thị K và những người trong tộc gồm: ông Trần Văn P1, ông Hồ Văn N, ông Đặng Văn T2, ông Đào Ngọc T3 ký tên, nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương.
Năm 1997, ông L về cất nhà và quản lý, sử dụng đất được chia cho ông H2 và ông B1 nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông L đứng tên. Đến năm 2001-2002 ông C chết. Bà B (T1) tự ý làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ ông C sang cho bà B đứng tên toàn bộ diện tích đất 3.250m². Sau khi phát hiện sự việc ông L đã làm đơn khiếu nại gửi đến Ban N1 yêu cầu tách giấy cho ông L đứng tên phần đất được chia. Ban Nhân dân ấp đã hòa giải thành và tiến hành cấm trụ đá để xác định ranh đất giữa những phần đất được chia nhưng chưa làm thủ tục sang tên được do bà B (T1) nói giấy chứng nhận QSDĐ đang thế chấp cho ngân
hàng. Đến năm 2017, bà T1 làm thủ tục tách khoán, lúc này phần đất của ông L thống nhất giao cho con trai là ông Đào Hải S đứng tên. Đến ngày 05/9/2017, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đào Hải S đứng tên diện tích thửa đất 2590, tờ bản đồ số 4, diện tích 752m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm. Tuy nhiên phần diện tích đất khu mộ nằm trong phần đất được chia cho ông L cũng như con ông L mà bà B lại sang tên cho con ruột là Nguyễn Thị T đứng tên mà còn ngăn cản không cho ông L vào khu mộ để tu sửa mồ mã ông bà, dọn dẹp xung quanh khu mộ.
Nay, ông L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị B (Nguyễn Thị T1) và Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả lại cho ông L phần diện tích đất khu mộ ngang 11m x dài 21,1m diện tích 232,1m² thuộc một phần thửa đất số 2587 (ngang 9,14 x dài 21,1m) và thuộc một phần thửa đất số 2591 (ngang 1,86m x dài khoảng 21,1m) cùng tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, hiện nay Nguyễn Thị T đang đứng tên trong giấy chứng nhận QSDĐ.
Tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa sơ thẩm ông Đào Hải L yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc chị Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị B (Nguyễn Thị T1) phải có nghĩa vụ trả lại cho ông L phần diện tích đất khu mộ có chiều ngang một cạnh là 10,98m, một cạnh là 8,87m, chiều dài một cạnh là 21,1m, một cạnh dài là 22,06m diện tích 216,4m² trong phạm vi từ mốc số 3 đến mốc số 4 đến mốc số 5 đến mốc số 6 đến mốc số A và đến mốc số 3 thuộc một phần thửa đất số 2587 tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, hiện nay Nguyễn Thị T đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất có 16 ngôi mộ ông L không tranh chấp, đối với 12 cây mai do bà T trồng thì ông yêu cầu bà T đốn bỏ, di dời ra khỏi phần đất đang tranh chấp.
Ông Đào Hải L thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, sơ đồ đo đạc của Trung Tâm K1, kết quả định giá của Công ty cổ phần T5. Từ thời điểm Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đến nay thì trên phần đất đang tranh chấp không phát sinh thêm cây trồng hay vật kiến trúc gì mới.
* Bà Nguyễn Ngọc D là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị Nguyễn Thị T không đồng ý với yêu cầu của ông Đào Hải L về việc trả cho ông diện tích đất khu mộ, thuộc một phần thửa 2587, tờ bản đồ số 4, và một phần thửa 2591, tờ bản đồ số 4, tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Lý do như sau: Nguồn gốc đất là của ông Đào Cả H3 để lại ông cố là Đào Quảng Đáng diện tích 6.500m². Ông Đ1 có 04 người con: Đào Thị P; Đào Thị K; Đào Ngọc H2 và Đào Ngọc B1. Ông Đ1 chết để lại đất cho bà ngoại bà T là bà Đào Thị P quản lý, sử dụng từ trước năm 1955. Đào Tấn H1 là cậu của chị T sống chung với ngoại từ nhỏ, cùng quản lý sử dụng đất. Mẹ của chị T là bà Nguyễn Thị B (thường gọi Nguyễn Thị T1). Năm 1989, bà T và mẹ ruột về sống chung với cậu H1, cùng quản lý sử dụng toàn bộ phần đất diện tích 6.500m².
Ngày 26/11/1991, ông Đào Tấn H1 được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 6.500m2, gồm: 3.250m² đất thổ, thửa 1415; và 3.250m²
đất lúa thửa 1240, cùng tờ bản đồ số 2. Năm 1997, gia đình làm tờ tương phân, chia 3.250m² đất thổ.
Trong tờ tương phân có ghi: đối với khu vực mộ, không ai được ngăn cản khi chôn cất. Sau khi làm tờ tương phân chia đất, ông L không quản lý sử dụng đất, chỉ có mẹ con chị T và ông H1 trực tiếp quản lý, sử dụng. Trên đất có 16 ngôi mộ, trong đó: 07 ngôi mộ, gồm: vợ chồng ông H3, ba mẹ ông H3, vợ chồng ông Đ1, ông B1 (Ông bà chung với ông L); 05 ngôi mộ: là ông, bà nội và người thân bên nội của ông H1; 04 ngôi mộ: bà P, vợ chồng ông H1 (vợ ông H1 là bà L2) và cháu chị T.
Năm 1999, ông Đào Tấn H1 chết. Tháng 11/1999, mẹ của chị T nhận thừa kế 6.500 m² đất của ông H1. Ngày 06/01/2000 được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 6.500m². Khoảng năm 2015 – 2016, ông L cho con trai là Đào Hải S về nhận đất được chia để cất nhà ở, ông S sử dụng phần đất được chia là 752m². Đến năm 2017, mẹ chị T tách thửa 1415 thành 03 thửa: thửa 2590, 2591 và 2587. Mẹ của chị T cho ông Đào Hải S đứng tên diện tích 752,0m², thửa 2590. Ông S được cấp QSDĐ ngày 05/9/2017. Cho chị T 2 thửa: thửa 2591 và 2587 (đất mộ). Chị T được cấp QSDĐ ngày 31/8/2017. Từ khi tách thửa giao phần được chia của ông Đào Hải L cho con trai ông Đào Hải S đứng tên 752m². Phần đất chị T đứng tên, gia đình hai bên không xảy ra mích lòng, không ai thắc mắc khiếu nại hay yêu cầu thêm phần đất nào nữa.
Năm 2022, ông L cho chị T hay để sửa lại khu mộ, nhưng chị T cho biết khả năng gia đình không có tiền hùn nhiều, có bao nhiêu hùn bấy nhiêu. Chỉ như vậy thôi, bà B và chị T không ai ngăn cản gì ông L. Khu mộ 16 cái vẫn thông thoáng, không ai rào rấp, gia đình chị T cũng không ngăn cản việc ông L vào thăm khu mộ. Khu mộ chỉ có gia đình chị T quản lý trông coi, dọn dẹp hàng năm. Gia đình ông L thỉnh thoảng vài lần quét vôi 7 ngôi mộ ông, bà chung. Phần mộ là 16 ngôi, nhưng ông bà chung chỉ 07 ngôi mộ, còn lại 09 ngôi là người thân của gia đình chị T, không bà con thân tộc với ông L. Mộ ông bà, anh em, con cháu chị T vẫn nằm trên đất này nhiều hơn ông bà chung. Hơn nữa, lúc mẹ của chị T lấy cốt ông, bà nội của cậu Đào Tấn H1 về chôn cất thì ông L nói sẽ cuốc bỏ. Chị T đang đứng tên quyền sử dụng đất khu mộ chung của ông bà thửa 2587, không trái đạo lý. Phần đất đang tranh chấp là của cá nhân chị Nguyễn Thị T, chị T được tặng cho riêng, không liên quan gì đến chồng của chị T là anh Đặng Minh T4. Do đó chị không yêu cầu đưa anh Đặng Minh T4 vào tham gia trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
Chị T thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, sơ đồ đo đạc của Trung Tâm K1 và kết quả định giá của Công ty cổ phần T5. Từ thời điểm Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đến nay thì trên phần đất đang tranh chấp không phát sinh thêm cây trồng hay vật kiến trúc gì mới.
- Bà Nguyễn Ngọc D là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà Nguyễn Thị Ba k đồng ý với yêu cầu của ông Đào Hải L về việc trả cho ông diện tích đất khu mộ, thuộc một phần thửa 2587, tờ bản đồ số 4, và một phần thửa 2591, tờ bản đồ số 4, tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Lý do như sau: Nguồn gốc đất là của ông cố tên Đào Cả H3 để lại con là Đào Quảng Đ2 (ông ngoại tôi) diện tích 6.500m². Ông Đ2 có 04 người con: Đào Thị P; Đào Thị K; Đào Ngọc H2 và Đào Ngọc B1. Bà Đào Thị P là mẹ của bà B và Đào Tấn H1 (tên gọi khác Trương Văn C) là cùng mẹ khác cha. Bà P sống với cha là ông Đ2. Sau khi ông Đ2 chết (năm nào không rõ), mẹ bà B và H1 quản lý sử dụng 6.500 m² đất trên từ trước năm 1955 cho đến khi qua đời. Năm 1989, bà B và các con về sống chung với Đào Tấn H1, cùng quản lý sử dụng toàn bộ 6.500 m² đất.
Ngày 26/11/1991, ông Đào Tấn H1 được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 6.500 m², gồm: 3.250 m² đất thổ, thửa 1415; và 3.250 m² đất lúa thửa 1240, cùng tờ bản đồ số 2. Mặc dù em bà B là Đào Tấn H1 đứng tên QSDĐ, nhưng năm 1997, gia đình làm tờ tương phân, chia 3.250 m² đất thổ. Trong tờ tương phân có ghi: đối với khu vực mộ, không ai được ngăn cản khi chôn cất.
Sau khi làm tờ tương phân chia đất, ông L không quản lý sử dụng đất, mà bà B và ông H1 trực tiếp quản lý, sử dụng. Trên đất có 16 ngôi mộ, trong đó: 07 ngôi mộ, gồm: vợ chồng ông H3, ba mẹ ông H3, vợ chồng ông Đ2, ông B1 (Ông bà chung với ông L); 05 ngôi mộ: là ông bà nội và người thân bên nội của ông H1; 04 ngôi mộ: bà P, vợ chồng ông H1 (vợ ông H1 là bà L2) và cháu ngoại bà B. Ông Đào Tấn H1 chết năm 1999. Tháng 11/1999, bà B kê khai nhận thừa kế 6.500 m² đất của ông H1. Ngày 06/01/2000, bà B được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 6.500 m². Khoảng năm 2015 – 2016, ông L cho con trai là Đào Hải S về nhận đất được chia để cất nhà ở. Ông S sử dụng phần đất được chia là 752 m².
Đến năm 2017, ông L yêu cầu bà B tách thửa giao cho Đào Hải S đứng tên. Khi cán bộ đo đất, bà B và ông L thống nhất vị trí tại phần đất S đang quản lý sử dụng là diện tích 752m². Thửa 1415, bà B thành 03 thửa: thửa 2590, 2591 và 2587. Sau khi tách thửa, cùng lúc bà B chuyển cho Đào Hải S thửa 2590, diện tích 752,0 m². Ông S được cấp QSDĐ ngày 05/9/2017. Bà B cho con gái Nguyễn Thị T 2 thửa: thửa 2591 và 2587 (đất khu mộ). Chị T được cấp QSDĐ ngày 31/8/2017. Từ khi tách thửa giao phần được chia của Đào Hải L cho con trai Đào Hải S đứng tên 752 m². Còn phần đất mộ cho T đứng tên, thì giữa bà B và L vẫn vui vẻ đến nhà thăm hỏi nhau, không xảy ra mích lòng, không ai thắc mắc khiếu nại hay yêu cầu thêm phần đất nào nữa.
Năm 2022, ông L cho bà B hay sửa lại khu mộ, gia đình tôi không có tiền, chỉ nói khả năng hùn nhiêu được thì hùn. Chỉ như vậy thôi, bà B và T không ai ngăn cản gì ông L. Khu mộ 16 cái vẫn thông thoáng, không ai rào rấp, gia đình bà B cũng không ngăn cản việc ông L vào thăm khu mộ. Khu mộ chỉ có gia đình bà B quản lý trông coi, dọn dẹp hàng năm. Gia đình ông L thỉnh thoảng vài lần quét vôi 7 ngôi mộ ông bà chung. Phần mộ là 16 ngôi, nhưng ông bà chung chỉ 07 ngôi mộ, còn lại 09 ngôi là người thân của gia đình tôi, không bà con thân tộc
với ông L. Mộ ông bà, anh em, con cháu tôi vẫn nằm trên đất này nhiều hơn ông bà chung. Hơn nữa, lúc tôi lấy cốt ông bà nội của Đào Tấn H1 về chôn cất thì L nói sẽ cuốc bỏ.
Nay, bà Ba k đồng ý giao phần đất khu mộ cho ông Đào Hải L đứng tên. Việc con bà B là Nguyễn Thị T đứng tên quyền sử dụng đất khu mộ không trái đạo lý. Bà thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, sơ đồ đo đạc của Trung Tâm K1, và kết quả định giá của Công ty cổ phần T5. Từ thời điểm Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đến nay thì trên phần đất đang tranh chấp không phát sinh thêm cây trồng hay vật kiến trúc gì mới.
* Về giá đất, vật kiến trúc, cây trồng tại vị trí đất tranh chấp, các đương sự thống nhất với giá đất theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T5.
* Ngoài ra, các đương sự trong vụ án không tranh chấp thêm vấn đề nào khác, không yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, không cung cấp thêm tình tiết, tài liệu, chứng cứ nào mới ngoài các chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Các đương sự không yêu cầu đưa Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ, ông Đặng Minh T4 là chồng của chị Nguyễn Thị T vào tham gia trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
* Tại Quyết định bản án sơ thẩm số 78/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Hải L.
Công nhận cho ông Đào Hải L được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích đất đo đạc thực tế 216,4m² thuộc thửa số 2587, (loại đất CLN), tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nằm trong phạm vi từ mốc 3 đến mốc 4 đến mốc 5 đến mốc 6 đến mốc 10 đến mốc 3 theo Sơ đồ đo đạc ngày 01/12/2022 của Trung tâm K1.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc ngày 01/12/2022 của Trung tâm K1)
Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai thu hồi một phần diện tích 216,4m² (loại đất CLN), thuộc thửa số 2587, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chị Nguyễn Thị T vào ngày 31/8/2017 để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đào Hải L.
Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ tháo dỡ, đốn bỏ, di dời 12 cây mai ra khỏi phần đất đang tranh chấp.
2. Về án phí:
Ông Đào Hải L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.246.000 đồng.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá là 11.211.000 đồng, chị Nguyễn Thị T phải chịu. Do ông L đã tạm ứng và chi xong nên chị Nguyễn Thị T phải trả lại cho ông L số tiền là 11.211.000 đồng (mười một triệu hai trăm mười một nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 7 năm 2023, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 78/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh. Chị Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị B yêu cầu sửa bản án sơ thẩm 78/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Hải L. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập, xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ là ảnh hưởng quyền lợi của chị T, bà B.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị B trình bày: Năm 2017, khi bà B tiến hành tách thực hiện thủ tục tách thửa, sang tên quyền sử dụng đất cho ông L (anh S con ông L đứng tên), thì có mặt ông Huỳnh Văn M chứng kiến, là thành viên tổ hòa giải và là người giáp ranh với bà B thì ông L xác định ranh giới, vị trí phân chia và trồng trụ đá, còn phần đất có khu mộ thì ông L không có yêu cầu chia, đồng ý giao lại cho bà B được đứng tên quyền sử dụng đất, vì khu đất mồ mả của dòng họ có nhiều mộ của dòng họ tộc, trong đó có mồ mả của gia đình bà B.
Người đại diện của nguyên đơn ông Đào Hải L trình bày: Căn cứ tờ tương phân ngày 18/03/1997 thì phần diện tích đất tranh chấp 216,4m2 thuộc thửa số 2587, tờ bản đồ số 4 đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã được phân chia cho ông Đào Hải L (được thừa hưởng từ cha là ông Đào Ngọc H2) để thờ cúng ông bà nội. Do đó, yêu cầu giữ y bản án sơ thẩm bác kháng cáo của bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị B, tuyên sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo chị Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị B nộp trong hạn luật định nên kháng cáo được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét nguồn gốc đất tranh chấp chị Nguyễn Thị T được cấp Giấy CN.QSDĐ thửa số 2587, tờ bản đồ số 04, diện tích 194m², đất trồng cây lâu năm, cấp ngày 31/8/2017 (đo đạc thực tế diện tích 216,4m² nhiều hơn Giấy CNQSD đất đã được cấp) tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thuộc một phần của diện tích 6.500m² cụ Đào Cả H3 (chết năm nào không xác định được) để lại cho ông Đào Quảng Đ2 (con ông H3) quản lý sử dụng đất và chết từ trước 1954. Sinh thời, ông Đào Quảng Đ2 có 04 người con: Bà Đào Thị P, bà Đào Thị K, ông Đào Ngọc H2 (chết năm 1974) và ông Đào Ngọc B1 (đều được các đương sự thống nhất) xác định cùng đồng hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ2. Đến khi ông Đ3 Quảng Đáng chết để lại cho 04 người con được hưởng quyền sử dụng đất của ông Đ2, gồm bà Đào Thị P (mẹ của bà B, ông Đào Tấn H1), bà Đào Thị K, ông Đào Ngọc H2 và ông Đào Ngọc B2 nhưng chỉ có bà P là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất của ông Đ2 để lại, sau khi bà P chết năm 1987 thì con là ông Đào Tấn H1 (còn gọi Trương Văn C là con bà P) tiếp tục quản lý, sử dụng. Đến ngày 26/11/1991, ông Đào Tấn H1 tự kê khai và được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 6.500 m².
Tháng 11/1999 ông Đào Tấn H1 chết nên bà Nguyễn Thị B (là chị ruột) kê khai nhận thừa kế từ ông H1, đến ngày 06/01/2000, bà B được UBND huyện C cấp giấy CN.QSDĐ thửa 1415, tờ bản đồ số 02, diện tích 3.250m², đất thổ và thửa 1420, tờ bản đồ số 02, diện tích 3.250m², tổng diện tích 6.500m². Sau đó, bà B tiếp tục thực hiện thủ tục cấp đổi và được cấp Giấy CN.QSDĐ thửa số 2587, tờ bản đồ số 04, diện tích 194m², đất trồng cây lâu năm, cấp ngày 17/7/2017 và Giấy CN.QSDĐ thửa số 2591, tờ bản đồ số 04, diện tích 300m² đất ở + diện tích 1.097m² đất trồng cây lâu năm, cấp ngày 17/7/2017. Đến ngày 14/8/2017 thì bà B lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hai thửa trên cho chị T. Do đó, chị T đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy CN.QSDĐ thửa số 2587, tờ bản đồ số 04, diện tích 194m², đất trồng cây lâu năm, cấp ngày 31/8/2017 và Giấy CN.QSDĐ thửa số 2591, tờ bản đồ số 04, tổng diện tích 1.397m² (300m² đất ở + 1.097m² đất trồng cây lâu năm), cấp ngày 31/8/2017.
Tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất phần đất tranh chấp diện tích 216,4m² (theo đo đạc thực tế tăng so với diện tích được cấp giấy CNQSD đất) trong phạm vi các mốc 3-4-5-6-10 trở về mốc 3, theo sơ đồ đo đạc ngày 01/12/2022 của Trung tâm K1 thuộc thửa 2587 do chị T đang đứng tên Giấy CNQSD đất.
[3]. Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện nguyên, bị đơn đều thống nhất xác định Tờ tương phân ngày 13/8/1997 có giá trị pháp lý, do thể hiện sự đồng ý xác nhận ký tên của các bà Nguyễn Thị T1 (bà B) và ông Đào Tấn H1 (ông C) là các con của bà P), ông Đào Hải L (con ông H2), ông Trần Văn P1 (con bà Đào Thị K), ông Trần Tấn M1 (anh em cùng mẹ khác cha với ông L) và những người
trong tộc họ làm chứng cùng ký tên đồng ý phân chia đất diện tích 3.250m2 là di sản của ông Đào Quảng Đ2 do ông Đào Tán H4 đứng tên đại diện chia đều cho bốn người gồm: Bà Đào Thị P, bà Đào Thị K, ông Đào Ngọc H2 và ông Đào Ngọc B1, ông Đào Hải L được nhận phần đất của ông Đào Ngọc H2 và ông Đào Ngọc B1, ông L sẽ cúng ông bà nội, nếu sau này con của ông Đào Ngọc B1 lãnh phần ăn sẽ cúng bà nội như nêu ở trên. Do đó, năm 1999 ông Đào Tấn H1 chết, năm 2000 bà Nguyễn Thị T1 (bà B) tự kê khai đứng tên QSD đất 3.250m2 toàn bộ diện tích của ông Đào Tấn H1 (đứng tên QSD đất ngày 26/11/1991) đã được các đương sự ông H1, bà T1 và ông L cùng nhiều người khác trong tộc họ đã ký tên đồng ý phân chia 3.250m2 theo nội dung Tờ tương phân ngày 13/8/1997 có sơ đồ kèm theo, trong đó có phần diện tích mồ mã đã chia cho ông H2 (sau này ông L hưởng từ ông H2) mà không giao lại ông L là chưa phù hợp với nội dung các đương sự đã thống nhất cùng xác nhận trong tờ tương phân.
Theo nội dung Tờ tương phân ngày 13/8/1997 thể hiện phần đất ông H2 (cha ông L) được chia có cả phần diện tích khu mộ hiện nay đang tranh chấp 216,4m2 và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy L1, đại diện bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan anh Trần Đình H đều thừa nhận nội dung này. Từ đó, có cơ sở xác định việc ông H2 (sau này ông L) được giao phần diện tích khu mộ để quản lý gìn giữ, tạo điều kiện cho những người trong họ tộc đến thờ cúng chăm sóc các ngôi mộ của ông bà, cha mẹ và bà con thân thuộc cũng như được quyền chôn cất những người chung họ tộc sau này theo nội dung tờ tương phân đã thể hiện là có căn cứ (nội dung này được đại diện nguyên, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất).
Ngoài ra, theo lời khai của người làm chứng Trần Văn P1 (con bà Đào Thị K) xác định: Ông là người trực tiếp viết nội dung Tờ tương phân ngày 13/8/1997 và Tờ tường trình về việc tranh chấp đất vào năm 2001 gửi đến ban hòa giải ấp A, xã A. Theo nội dung tờ tương phân thì anh, em trong họ tộc đã thống nhất giao phần đất (phần ăn) của Đào Ngọc H2 và Đào Ngọc B1 được thừa hưởng cho ông L. Nhưng ông L vẫn chưa được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này. Vào năm 2001, ông L tranh chấp với bà Nguyễn Thị B đã được ban H6 thành và đã được xuống trụ đá từ mé sông đến phần đất của ông Năm Đ và ông L đã quản lý phần đất tranh chấp từ sau khi được hòa giải thành năm 2001. Ngoài ra, theo lời khai của người làm chứng Trần Văn P2, Trần Văn R, cho rằng: Năm 1997, anh em trong họ tộc có ý kiến thống nhất phân chia phần đất này theo sơ đồ kèm theo tờ tương phân ngày 13/8/1997. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định tờ tương phân ngày 13/8/1997 thể hiện ý chí của các anh, chị, em trong gia đình (thân tộc) vào năm 1997 thống nhất thỏa thuận phân chia đất cho ông H2 (ông L) là có căn cứ.
Do thời gian hòa giải đã lâu (trên 20 năm) và biên bản hòa giải vào năm 2001 không còn do hồ sơ đã thất lạc không thể sao lục được nhưng có xác nhận của ông Nguyễn Văn L3, ông Huỳnh Văn R1, ông Huỳnh Văn M2 và ông Nguyễn Hoàng H5 là thành viên của Tổ hòa giải ấp A đều xác nhận vào năm 2001 có trực tiếp giải quyết vụ việc tranh chấp và đã hòa giải thành năm 2001. Do đó, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị B (tên gọi khác Nguyễn Thị T1) đã
đồng ý ký tên và thực hiện theo nội dung “Tờ tương phân ngày 13/8/1997” và Tổ hòa giải đã chứng kiến hai bên xuống trụ đá ranh thẳng từ mé sông đến giáp ranh đất ông Năm Đ để phân chia đát theo tờ tương phân ngày 13/08/1997 là có thật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp diện tích 216,4m², trong phạm vi các mốc 3-4-5-6-10 trở về mốc 3, theo sơ đồ đo đạc ngày 01/12/2022 của Trung tâm K1 thuộc thửa 2587 theo nội dung tờ tương phân ngày 13/8/1997 là phần của ông H2 (ông L) được nhận nên Tòa án cấp sơ thẩm xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Trần Đình H đại diện bị đơn chị Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị B là người có quyền nghĩa vụ liên quan kháng cáo cho rằng phần diện tích tranh chấp 216,4m2 là khu mộ gia tộc nên ai trong gia tộc cũng có thể đứng tên Giấy CNQSD đất vì là đất thuộc mục đích chôn cất, thờ cúng ông bà cha mẹ và người thân thuộc trong gia tộc nên không ai được quyền trao đổi, sang nhượng. Do đó, đề nghị sửa án sơ thẩm giữ nguyên quyền đứng tên Giấy CNQSD đất của chị Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, theo những nội dung đã phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy chưa đủ cở cở để chấp nhận theo yêu cầu kháng cáo của chị chị Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị B .
Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Ba k cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận.
[5] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị B, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên cần sửa cách tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[6] Xét đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn ông L là phù hợp nên chấp nhận.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là chưa phù hợp nên chưa thể chấp nhận.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên chị Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị Ba p chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi nên bà Ba k phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 166, 203 của Luật đất đai; Điều 155 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị B.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 78/2023/DS–ST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Hải L.
Công nhận cho ông Đào Hải L được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích đất đo đạc thực tế 216,4m² thuộc thửa số 2587, loại đất CLN, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nằm trong phạm vi từ mốc 3 đến mốc 4 đến mốc 5 đến mốc 6 đến mốc 10 đến mốc 3 theo Sơ đồ đo đạc ngày 01/12/2022 của Trung tâm K1. (Ông L được quyền quản lý gìn giữ, tạo điều kiện cho những người trong họ tộc đến thờ cúng, chăm sóc các ngôi mộ của ông bà, cha mẹ và bà con thân thuộc cũng như được quyền chôn cất những người chung họ tộc trên phần đất diện tích 216,4m2 thuộc thửa số 2587, loại đất CLN, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp).
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc ngày 01/12/2022 của Trung tâm K1)
Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Chi phí lệ phí theo qui định các đương sự tự chịu.
- Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai thu hồi diện tích 194m² (đo đạc thực tế 216,4m², loại đất CLN), thuộc thửa số 2587, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chị Nguyễn Thị T vào ngày 31/8/2017 để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đào Hải L.
Buộc chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ tháo dỡ, đốn bỏ, di dời 12 cây mai ra khỏi phần đất đang tranh chấp.
2. Về án phí:
Ông Đào Hải L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.246.000 đồng.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá là 11.211.000 đồng, chị Nguyễn Thị T phải chịu. Do ông L đã tạm ứng và chi xong nên chị Nguyễn Thị T phải trả lại cho ông L số tiền là 11.211.000 đồng (mười một triệu hai trăm mười một nghìn đồng).
4. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị B được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị T phải phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0004251 ngày 24/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trung Thành |
Bản án số 204/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 204/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông L khởi kiện yêu cầu bà Tr giao trả diện tích đất cho ông L theo tờ tương phân ngày 18/3/1997
