Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/HS-ST

Ngày: 23 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Huỳnh Hoàng Thuận – Giáo viên Trường THPT Trần Văn Ơn, thành phố Thuận An.

Bà Dương Thị Bạn – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 249/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2024/QĐXXST-HS ngày 12/8/2024 đối với bị cáo:

Đặng Quang D, sinh ngày 10/8/2006 tại tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi tạm trú: Nhà trọ Phạm Văn S, tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Đặng Văn H và bà Lê Thị H1; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: Số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Quang D:

Ông Đặng Văn H, sinh năm 1979 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1980 (là bố mẹ của bị cáo); Cùng nơi thường trú: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và tạm trú: Nhà trọ Phạm Văn S, Tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đều vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Quang D:

Bà Đinh Như Ý - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

- Người làm chứng:

Ông Lê Thanh T1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 29/5/2024, Đặng Quang D điều khiển xe mô tô biển số: 37Z1-6089 đi trên đường ĐT 743, khi ngang qua nhà số A, khu phố B, phường B, thành phố T thì thấy bà Nguyễn Thị T đang ngồi phía trước nhà trên tay cầm 01 điện thoại di động hiệu S1 M11, màu xanh, D điều khiển xe mô tô đến ngã ba giao nhau giữa đường ĐT 743 và đường B, cách bà T khoảng 20m rồi dựng xe lại nhưng vẫn để nổ máy, D đi bộ đến dùng tay phải giật điện thoại của bà T rồi bỏ chạy lại xe mô tô tẩu thoát nhưng bà T đuổi kịp, nắm tay vào cản phía sau xe mô tô của D kéo lại tri hô cùng người dân hỗ trợ bắt giữ cùng tang vật.

Theo Kết luận định giá tài sản số 88 ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M11, màu xanh trị giá: 700.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 225/CT-VKSTA ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 65, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.

- Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh, khu hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người dân lao động đến tỉnh Bình Dương để làm thuê nên đề nghị xử phạt dưới mức thấp nhất mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo tại phiên tòa hôm nay.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo rất ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, tại nhà số A, khu phố B, phường B, thành phố T, bị cáo dùng tay giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung trị giá 700.000 đồng của bà Nguyễn Thị T rồi bỏ chạy thì bị bắt giữ cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu bản thân, muốn có tài sản sử dụng, sau khi phát hiện bị hại, bị cáo áp sát giật lấy tài sản của họ rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt bị cáo với tương xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, nhất thời phạm tội, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên áp dụng Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.

[7] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, khi phạm tội chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương.

[8] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là tương đối nghiêm khắc như đã phân tích tại các mục [6], [7] nên cần xử phạt mức thấp hơn.

[9] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không xem xét.

[11] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M11 của bà Nguyễn Thị T; 01 xe mô tô kiểu dáng Wave biển số: 37Z1-6089 của ông Đặng Văn H (cha ruột của bị cáo), ông H cho bị cáo mượn, không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản nói trên cho các chủ sở hữu.

[12] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 171; Điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 65, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đặng Quang D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đặng Quang D 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án 23/8/2024.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí:

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Công an, Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 204/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đặng Quang D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger