TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/HSST Ngày: 22/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt C và bà Nguyễn Thị Thu T
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc T – Kiêm sát viên.
Trong ngày 22/7/2024, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 163/2024/TLST-HS ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, sinh năm 1986; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Số F hẻm A L, phường B, quận T, Hà Nội.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Nguyễn Đức T1 và bà Vũ Bích U
Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 1998, có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 18/4/2006, bị Công an quận C, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Tháng 11/2007, bị Công an quận C, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Bản án số 186 ngày 24/9/2008, TAND huyện Từ Liên, Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong các quyết dịnh bản án và được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/3/2024. Hiện tạm giam tại trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Số giam: 1477E2/6 – Có mặt
Bào chữa cho bị cáo có luật sư Nguyễn Văn H – Luật sư thuộc Công ty TNHH G – Đoàn luật sư thành phố H – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Nguyễn Minh T là người đã nhiều lần sử dụng ma túy. Thông qua bạn bè xã hội T có biết một người bán ma túy tên L (không rõ lý lịch, nhân thân) thường lang thang ở khu vực phía sau bến xe M thuộc phường M, N, Hà Nội. Khoảng 17 giờ ngày 14/3/2024, T đi xe ôm đến khu vực bến xe M tìm gặp L và mua của L 500.000 đồng được 01 túi nilon chứa ma túy “đá”. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào túi áo khoác phía bên phải để mục đích sử dụng rồi đi về quán nước ở khu vực quận T, Hà Nội. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe máy BKS: 30L6 – 2873mang theo túi ma túy cất giấu trong túi áo khoác đi xuống khu vực sân vận động M chơi và khi đi qua khu vực phố V, T, Hà Nội thì T gặp bạn là Nguyễn Đức H1 nên T đã rủ H1 đi cùng mục đích để H1 mang xe máy về trả cho anh họ T, H1 đồng ý (T không nói cho H1 biết đang cất giấu ma túy trên người). Khi T chở H1 đến khu vực đường L, phường M, N, Hà Nội thì bị Công an phường P kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); 01 điện thoại Xiaomi; 01 xe máy hiệu Honda Wave màu bạc BKS: 30L6-2873.
Tại bản kết luận giám định số 2103/KL- KTHS ngày 23/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma tùy loại Methamphetamine, khối lượng 0,319 gam.
Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKSNTL ngày 28/6/2024 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Luật sư H bào chữa:
- - Nhất trí với tội danh mà đại diện VKS luận tội
- - Đề nghị khi lượng hình HĐXX xem xét các căn cứ sau đây:
- + Bị cáo tự nguyện giao nộp tang vật của vụ án, sau đó mới bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
- + Bố bị cáo là người thờ cúng liệt sĩ
- + Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo ăn năn hối cải và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của minh.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm s, g khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xét xử bị cáo ở mức án dưới mức thấp nhất mà VKS đề nghị. Bị cáo đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 BLHS để xem xét đối với bị cáo.
Bị cáo nhất trì với lời bào chữa của vị Luật sư, bị cáo không bổ sung gì. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 14/3/2024, tại khu vực đường L, phường M, N, Hà Nội, Nguyễn Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,319 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường P, N, Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm, gây mất trật tự trị an, làm băng hoại đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân của bị cáo: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo có nhân thân không tốt: Haii lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; 01 lần bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương ứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bố bị cáo là người thờ cúng liệt sĩ. HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, hiện bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung “Phạt tiền” cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của bị cáo.
Liên quan trong vụ án này còn có Nguyễn Đức H1, người đi cùng T khi bị bắt quả tang, nhưng do H1 không biết T cất giấu ma túy trên người nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối tượng tên T3 bán ma túy cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 46, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Minh T 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi nàu vàng, lắp sim, máy cũ đã qua sử dụng, không kiếm tra chất lượng máy. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đã được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của Nguyễn Minh T, cán bộ Công an phường P và giám định viên.
(Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 237 ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận N).
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 204/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 204/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Thắng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
