Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/DS-ST

Ngày: 27-11-2024

“V/v tranh chấp về hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Mầm.
  2. Ông Trần Hoàng Bé.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Trần Bích Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 368/2024/TLST-DS ngày 26/7/2024 về việc “Tranh chấp về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2024/QĐXXST-DS ngày 23/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-DS ngày 14/11/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Việt P, sinh năm 1961; địa chỉ: khóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Ngô Ánh T, sinh năm 1962 và ông Trần Văn H, sinh năm 1957; cùng địa chỉ: khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thúy P1, sinh năm 1973; địa chỉ: khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Việt P trình bày:

Trong năm 2023, bà P làm chủ dây hụi 50.000 đồng, hụi khui mỗi ngày, khởi khui ngày 28/4/2023, loại hụi đầu thảo, có 70 phần (chưng), bà T tham gia 10 phần và đã hốt hụi hết 10 phần trong 10 lần khui hụi đầu tiên với tổng số tiền là 31 triệu đồng, trong đó đã khấu trừ xong huê hồng cho bà P 500.000 đồng cho cả 10 phần. Sau đó, T chỉ đóng lại được 30 ngày hụi với số tiền: 30 ngày x 50.000 đồng/ngày x 10 phần = 15 triệu đồng và ngưng cho đến nay dù hụi đã mãn vào ngày 08/7/2023 âm lịch. Bà T còn nợ bà P tiền hụi là 40 ngày x 50.000 đồng/ngày x 10 phần = 20 triệu đồng.

Từ khởi khui cho đến mãn hụi, bà T là người trực tiếp tham gia hụi, ông H không tham gia bất cứ hoạt động nào, nhưng do bà T xác nhận mục đích tham gia hụi là để bà có tiền mua vàng làm tài sản tiết kiệm trong gia đình nên bà P yêu cầu bà T, ông H cùng có trách nhiệm trả số tiền hụi 20 triệu đồng.

Theo Biên bản ghi lời khai ngày 23 tháng 10 năm 2024, bà Ngô Ánh T khai: Đối với dây hụi 50.000 đồng/ngày, bà T không nhớ ngày khởi khui, không nhớ bao nhiêu phần, không biết có bao nhiêu người tham gia, đã hốt nhưng không nhớ ngày tháng năm, không nhớ hốt lần thứ mấy. Lý do không nhớ, không biết rõ sự việc tham gia hụi vì bà T tham gia giùm em gái ruột tôi tên Ngô Thúy P1. Tuy nhiên, bà T xác nhận chỉ còn nợ hụi bà P1 18.500.000 đồng và nhận trách nhiệm trả nợ cho bà P. Riêng ông H, không tham gia hụi, không liên quan.

Theo Biên bản lấy lời khai và Biên bản hòa giải ngày 23 tháng 10 năm 2024, bà Ngô Thúy P1 khai: Đối với dây hụi 50.000 đồng/ngày do bà P trình bày, thực tế do bà T tham gia giùm bà P1. Việc tham gia hụi này là sự thỏa thuận giữa bà P1 với bà T, số tiền hụi còn nợ là 18.500.000 đồng nên bà T có trách nhiệm trả cho bà P, bà P1 sẽ có trách nhiệm riêng với bà T mà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản hòa giải ngày 23 tháng 10 năm 2024, bà P trình bày: Thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà T trả cho bà số tiền 18.500.000 đồng.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T, ông H vắng mặt.

Tại phiên tòa,

Bà T, ông H, bà P1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Bà P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định việc thay đổi yêu cầu bà T, ông H trả 20.000.000 đồng thành yêu cầu bà T trả 18.500.000 đồng là thay đổi yêu cầu khởi kiện, không phải rút lại một phần yêu cầu vì ông H không tham gia hụi, chấp nhận bà T trả 18.500.000 đồng để không phải tranh chấp phức tạp.

Thay mặt Hội đồng xét xử, Thẩm phán công bố toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký thực hiện đúng quy định tại các Điều 48, khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án; Nguyên đơn, bị đơn, thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 471, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của bà P buộc bà T phải trả cho bà P số tiền 18.500.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm buộc bà T chịu theo quy định.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà P khởi kiện yêu cầu trả số tiền nợ hụi là tranh chấp về giao dịch dân sự đối với bà T, ông H có địa chỉ khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà T, ông H, bà P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông H, bà P1 theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về sửa chữa tên người tham gia tố tụng: Tại các tài liệu gồm: biên bản ghi lời khai bà T, bà P1, biên bản phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã ghi nhận tên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là “Ngô Tuyết P2” (nhưng tất cả chữ ký, chữ viết họ tên bà P2 đều ghi “Ngô Thúy P1”. Do có sự sai sót trong soạn thảo văn bản nên đính chính lại tên “Ngô Tuyết P2” trong các tài liệu nêu trên thành “Ngô Thúy P1”.

[2] Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào lời khai thống nhất của bà P, bà T, bà P1, có cơ sở xác định bà T có tham gia hụi do bà P làm chủ, loại hụi 50.000 đồng, khui mỗi ngày, khởi khui ngày 28/4/2023, loại hụi đầu thảo, có 70 phần (chưng), bà T tham gia 10 phần và đã hốt hụi hết, đến nay bà T còn nợ và P tiền hụi chưa chầu là 18.500.000 đồng. Bà T nhận trách nhiệm trả nợ cho bà P. Đối với lời khai của bà T, bà P1 cho rằng bà T tham gia hụi của bà P giùm cho bà P1, lời khai này bà P không thống nhất, ngoài lời khai thì bà T, bà P1 không có gì chứng minh việc giữa bà P, bà T, bà P1 thỏa thuận để bà T tham gia hụi giùm bà P1. Nên trách nhiệm trả nợ hụi cho bà P thuộc về bà T.

Vì vậy, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà P, bà T có trách nhiệm trả cho bà P số tiền hụi là 18.500.000 đồng.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Bà P được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí sơ thẩm. Trước đó, bà P đủ điều kiện miễn nộp tạm ứng án phí nên không xem xét xử lý về tạm ứng án phí. Bà T có trách nhiệm trả nợ hụi cho bà P, bà T là người cao tuổi nhưng không có đơn hay lời khai yêu cầu miễn án phí dân sự sơ thẩm nên bà T có trách nhiệm chịu án phí dân sự sơ thẩm là 925.000 đồng. Ông H, bà P1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 471 Bộ luật Dân sự; khoản 1, khoản 2 Điều 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Việt P. Bà Ngô Ánh T có trách nhiệm trả cho bà Ngô Việt P số tiền 18.500.000 (mười tám triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Việt P, ông Trần Văn H và bà Ngô Thúy P1 không phải chịu án phí sơ thẩm. Bà Ngô Ánh T phải chịu 925.000 (chín trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bà Ngô Việt P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo 15 ngày của ông Trần Văn H và bà Ngô Thúy P1 được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt đúng quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát ND H. Cái Nước;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H. Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/DS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp về hụi

  • Số bản án: 204/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger