|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 204/2024/HS-PT Ngày: 11/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
Ông Nguyễn Ngọc Chung.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 11/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/TLPT-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
*Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: số nhà C, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 19(đã chết) và bà Vũ Thị M, sinh năm 19gia đình có 02 anh em; bị cáo là thứ 2; vợ: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1995 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 118 ngày 20/9/2007 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong án phí 50.000 đồng và đã được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 47 ngày 15/3/2012 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đã được xoá án tích.
- + Ngày 23/3/2010 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tẩy xóa, sửa chữa giấy CMND và giấy phép lái xe.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa).
*Vụ án còn có 01 bị hại và 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến nội dung kháng cáo kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/3/2024, Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987, trú tại số nhà C, đường L, phường H, thành phố B do cần tiền nên nảy sinh ý định đi thuê xe ô tô tự lái rồi mang đi cầm cố lấy tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân. T1 sử dụng điện thoại di động truy cập vào mạng xã hội facebook thì thấy có bài viết của chị Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1996, trú tại thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang đăng thông tin cho thuê xe tự lái tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang kèm theo số điện thoại 0354.291.xxx để liên hệ. T1 sử dụng số điện thoại 0904.379.xxx gọi đến số điện thoại 0354.291.xxx của chị D đặt vấn đề thuê xe ô tô tự lái. Chị D nói giá cho thuê xe ô tô tự lái là 1.000.000 đồng/1 ngày nhưng phải chờ đến ngày hôm sau mới có xe cho thuê.
Khoảng 10 giờ ngày 04/3/2024, T1 gọi điện thoại cho chị D hỏi thuê xe ô tô và nói nhận xe vào lúc khoảng 14 giờ cùng ngày đồng thời gửi cho chị D định vị vị trí qua ứng dụng Zalo để mang xe đến ngõ C, đường P, phường D, thành phố B. Chị D đồng ý và thỏa thuận mang xe đến thành phố B cho T1 thuê sau đó T1 sẽ lái xe đưa chị D về phường N, thị xã V.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/3/2024, anh Ngô Thành H1, sinh năm 2001, trú tại thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (là bạn trai chị D) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO BKS 98A – 626.45 chở chị D đi đến ngõ C, đường P để giao xe. T1 bảo chị D để xe ô tô ở đầu ngõ và đi vào số nhà B, ngõ C, đường P làm hợp đồng thuê xe. Chị D xem căn cước công dân của T1 và đưa cho T1 một mẫu hợp đồng thuê xe đã soạn sẵn, bên cho thuê xe là Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V (chị D cùng anh Q1 cho thuê xe ô tô tự lái nên sử dụng hợp đồng mang tên anh Q1). T1 viết hợp đồng thuê xe là 07 ngày, giá là 1.000.000 đồng/1 ngày. Chị D yêu cầu T1 đặt cọc 8.000.000 đồng tiền thuê xe, mục đích nếu không xảy ra vi phạm luật giao thông hoặc hư hỏng xe thì sẽ trả lại tiền. Sau khi làm hợp đồng xong, T1 thanh toán 15.000.000 đồng tiền mặt cho chị D gồm 7.000.000 đồng tiền thuê xe 07 ngày và tiền đặt cọc thuê xe 8.000.000 đồng. Chị D giữ hợp đồng thuê xe và giao xe ô tô, chìa khóa xe cùng giấy biên nhận đăng ký xe thế chấp tại Ngân hàng, giấy chứng nhận đăng kiểm, bảo hiểm xe ô tô. Sau đó, T1 điều khiển xe ô tô BKS 98A – 626.45 chở chị D và anh H1 đi về phường N, thị xã V rồi lái xe về thành phố B.
Ngay sau đó, T1 gọi điện thoại cho Đỗ Trọng H2, sinh năm 1986, trú tại số F, đường Đ, phường L, thành phố B nhờ hỏi địa điểm cầm cố xe ô tô. T1 nói với H2 là T1 có chiếc xe ô tô muốn cắm lấy tiền sử dụng việc cá nhân thì anh H2 đồng ý. T1 lái xe ô tô đến nhà anh H2 đón. Anh H2 và T1 đi đến cửa hàng kinh doanh mua bán xe ô tô, xe máy cũ của anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. T1 đặt vấn đề cầm cố chiếc xe ô tô BKS 98A – 626.45 vay 130.000.000 đồng. Anh T2 xem xe và giấy tờ xe cùng căn cước công dân của T1 và hỏi nguồn gốc xe thì T1 nói là xe ô tô của gia đình Trung. Sau khi trao đổi, thoả thuận, anh T2 đồng ý nhận cầm cố và cho T1 vay 130.000.000 đồng, cắt lãi trước 10 ngày là 12.500.000 đồng. Anh T2 đưa cho T1 một bản mẫu “Giấy biên nhận tiền đặt cọc mua bán ô tô, xe máy” và yêu cầu T1 viết hợp đồng bán chiếc xe ô tô cho anh T2. Sau đó, anh T2 chuyển khoản 117.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng A số 2512205172500 vào tài khoản ngân hàng T5 số 39198799999 của T1 (lần 1 chuyển 90.000.000 đồng, lần 2 chuyển 27.500.000 đồng). Nhận tiền xong, T1 cùng anh H2 gọi xe taxi đi về. Số tiền cầm cố xe ô tô, T1 đã chuyển khoản 35.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989, nhà ở số B, ngõ C, đường P, phường D, thành phố B chung sống như vợ chồng với T1 (nhờ trả nợ 25.000.000 đồng và 10.000.000 đồng cho chị H3 để chăm sóc con chung); trả nợ ông Nguyễn Kim T3, sinh năm 1971, trú tại số nhà F, đường N, phường N, thành phố B 55.000.000 đồng; số tiền còn lại, T1 đã chi tiêu cá nhân hết.
Khi hết thời hạn thuê xe, Trung liên lạc với chị D bảo cho thuê xe đến ngày 20/3/2024 và thanh toán thêm tiền thuê xe. Ngày 03/4/2024, chị D gọi điện cho T1 không được, tìm hiểu thì biết T1 cầm cố xe ô tô cho anh T2. Ngày 06/4/2024, chị D làm đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp 01 “Hợp đồng thuê xe” ghi ngày 04/3/2024.
Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe ô tô BKS 98A – 626.45 tại cửa hàng của anh Nguyễn Hữu T2 kèm theo “Giấy biên nhận tiền đặt cọc mua bán ô tô, xe máy” ngày 04/3/2024.
Ngày 07/4/2024, Nguyễn Văn T1 đầu thú và khai nhận về hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe ô tô thuê của chị D. Khi đầu thú, T1 giao nộp chiếc điện thoại nhãn hiệu IPhone Xs Max gắn sim số 0922.239.577.
Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐ ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, màu sơn trắng, BKS 98A – 626.45; Số máy: G4FGJH 601984; SỐ K: RNYYE41A6 JC13139; Sản xuất năm 2018, tại Việt Nam, loại xe (số tự động) đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm ngày 04/3/2024 là 390.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên tờ giấy “Hợp đồng thuê xe” (ký hiệu A1) và “Giấy biên nhận tiền đặt cọc mua bán ô tô, xe máy” (ký hiệu A2) đã thu giữ.
Kết luận giám định số 812/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2 – trừ chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Hữu T2 dưới mục “Bên mua” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2)) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T1 trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Hữu T2 dưới mục “Bên Mua” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Hữu T2 trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
Cơ quan điều tra đã sao kê tài khoản ngân hàng T5 số 39198799999 của Nguyễn Văn T1 và tài khoản ngân hàng A số 2512205172500 của anh Nguyễn Hữu T2, kết quả xác định: Ngày 04/3/2024, anh T2 có hai giao dịch chuyển khoản (lần 1 chuyển 90.000.000 đồng, lần 2 chuyển 27.500.000 đồng) vào tài khoản ngân hàng của T1.
Quá trình điều tra, bị cáo T1 khai được anh T2 nhận cầm cố xe ô tô để cho vay 130.000.000 đồng nhưng thực tế chỉ chuyển khoản 117.500.000 đồng, cắt lãi trước 12.500.000 đồng. Anh T2 khai chuyển khoản số tiền 117.500.000 đồng và đưa cho T1 12.500.000 đồng tiền mặt. Cơ quan điều tra đã cho T1 và anh T2 đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe ô tô BKS 98A – 626.45 có giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H4, sinh năm 1992, trú tại thôn D, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang (là chị gái của chị D). Chị D nhờ chị H4 đứng ra đăng ký xe giúp sau đó thế chấp Ngân hàng TMCP T6 – Chi nhánh H6 – Phòng kinh doanh T vay tiền. Cơ quan điều tra đã trả cho chị D chiếc xe ô tô kèm theo giấy biên nhận thế chấp, giấy chứng nhận đăng kiểm, bảo hiểm xe .
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 8.000.000 đồng mà T1 đặt cọc cho chị D thì T1 tự nguyện trả cho chị D để thanh toán tiền thuê xe. Chị D không yêu cầu T1 bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ cho T1.
Ngày 25/4/2024, anh Nguyễn Vũ H5, sinh năm 1984, trú tại số nhà C, đường L, phường D, thành phố B (là anh ruột của T1) đã tự nguyện giao nộp 100.000.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả. Cơ quan điều tra đã trả số tiền này cho anh Nguyễn Hữu T2. Do T1 xin anh T2 bớt tiền bồi thường nên anh T2 yêu cầu T1 bồi thường 20.000.000 đồng.
Đối với Trọng H2 giới thiệu Nguyễn Văn T1 đi cầm cố xe; anh Nguyễn Hữu T2 nhận cầm cố chiếc xe ô tô nhưng không biết là tài sản là do T1 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 169/CT-VKS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Trung về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 292, Điều 293, Điều 136, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; điểm a, c, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 10 (Mười năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 07/4/2024.
- Về vật chứng:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max gắn sim số 0922.239.577.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải trả cho anh Nguyễn Hữu T2 số tiền 20.000.000 đồng (bằng chữ: hai mươi triệu đồng), nhưng được trừ vào số tiền 17.500.000 đồng (bằng chữ: mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0001200 ngày 23/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
Bị cáo còn phải bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T2 2.500.000đồng (bằng chữ: hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
* Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 04/9/2024 bị cáo Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang tuyên phạt bị cáo 10 (M1) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là quá nặng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, án sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 10 năm tù là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền tại Chi cục thi hành án thành phố Bắc Giang để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, người liên quan và nộp tiền án phí của bản án sơ thẩm; ông nội bị cáo là ông Nguyễn Văn T4 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, được tặng Huy hiệu 65 năm tuổi đảng; mẹ bị cáo là Vũ Thị M đã nộp tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo, quỹ nhân đạo của phường H, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T1.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng đến 07 (Bẩy) năm 09 (C) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 07/4/2024.
- Án phí phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1 nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn T1 do cần tiền nên đã dùng thủ đoạn gian dối thuê xe ô tô tự lái rồi đem đi cầm cố để lấy tiền. Ngày 03/3/2024, T1 hợp đồng thuê của chị Nguyễn Thị Kiều D chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato biển số 98A – 626.45 trị giá 390.000.000 đồng, làm hợp đồng và giao xe tại thành phố B. Sau khi thuê được xe, T1 cầm cố xe cho anh Nguyễn Hữu T2 vay 117.500.000 đồng sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe ô tô và trả lại cho người bị hại.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, Bản án sơ thẩm 176/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, không oan sai.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do đó, phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với tội phạm này.
[3.2]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 01 lần bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tẩy xóa, sửa chữa giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe, nhưng không lấy đó để làm bài học để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình, xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường khắc phục phần lớn hậu quả, bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, ông nội là thương binh hạng 3/6 nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tài sản bị cáo chiếm đoạt, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử bị cáo Nguyễn Văn T1 10 (Mười) năm tù là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình các tài liệu chứng cứ:
Bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 3.000.000đồng tại Chi cục thi hành án thành phố Bắc Giang để bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T2 và nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm; ông nội bị cáo là ông Nguyễn Văn T4 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, được tặng Huy hiệu 65 năm tuổi đảng; đây là các tình tiết giảm nhẹ mới cần xem xét cho bị cáo tại cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Việc bị cáo nộp tiền án phí của bản án sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
Việc bà Vũ Thị M là mẹ đẻ bị cáo ủng hộ một số quỹ của Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại cấp phúc thẩm, số tiền chiếm đoạt đã được bồi thường toàn bộ cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3.3]. Từ những phân tích nêu trên, HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T1.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T1.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 292, Điều 293, Điều 136, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 07/4/2024.
Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) tiền bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T2, tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0001352 ngày 23/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Án phí phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Ngọc Chung Nguyễn Thị Hương Giang |
Bản án số 204/2024/HS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 204/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 11/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/TLPT-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. *Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: số nhà C, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 19(đã chết) và bà Vũ Thị M, sinh năm 19gia đình có 02 anh em; bị cáo là thứ 2; vợ: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1995 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. .. QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T1. 2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 292, Điều 293, Điều 136, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 07/4/2024.
