|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/HS-ST
Ngày: 07-11-2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị An.
- Ông Trần Minh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Cao Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Tuấn A, sinh ngày 21/7/1987 tại tỉnh Thái Bình;
Nơi thường trú: số nhà A, ngõ B, đường B, tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở: số nhà B, đường L, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đào Văn D và bà Đào Thị Kim L; Có vợ là Đinh Thị N, bị cáo chưa có con.
Tiền án: 02
Bản án số 84/2015/HSST ngày 22/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Đào Tuấn A 02 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đã nộp án phí và phạt bổ sung ngày 09/5/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/11/2017. Chưa được xóa án tích.
Bản án số 46/2019/HS-ST ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt Đào Tuấn A 04 năm 03 tháng tù, buộc bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 51.500.000 đồng và nộp án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 2.175.000 đồng về tội “Trộm cắp tài sản”; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/7/2023; chấp hành xong án phí hình sự và án phí dân sự ngày 24/02/2020; chưa bồi thường cho các bị hại.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 129/2008/HSST ngày 22/10/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Đào Tuấn A 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù 24/3/2011, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 07/4/2009.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/7/2024 đến ngày 17/7/2024 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Phạm Mạnh H, sinh năm 1950,
T tại: tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Anh Dương Ngọc H1, sinh năm 1985.
Trú tại: số nhà D, ngõ C, đường L, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 11/7/2024, Đào Tuấn A điều khiển xe máy nhãn hiệu Dream II màu tím, đeo biển kiểm soát 20D1-190.75 đi từ nhà đến khu vực chân cầu T thuộc huyện V, tỉnh Thái Bình mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau đó Tuấn A cất túi ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi Tuấn A đang dừng đỗ xe ở khu vực đường liên thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương, anh Phạm Mạnh H và anh Dương Ngọc H1, Tuấn A tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước đang mặc ra 01 túi nilon trong suốt mép được hàn nhiệt, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là túi ma túy đá vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4929 gam. Tổ công tác kiểm tra người Tuấn A đã thu giữ tại túi quần bên trái phía trước Tuấn A đang mặc 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng. Sau đó tổ công tác đã đưa Tuấn A và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã P, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.
Bản kết luận giám định số 1084/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4929 gam. Methamphetamine. STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là ông Phạm Mạnh H và anh Dương Ngọc H1 đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 210/CT-VKSTPTB ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Đào Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2024. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước. Vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy lỗi lầm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T lập ngày 11/7/2024, tại trụ sở Công an xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 1084/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 11/7/2024, tại khu vực đường L, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Đào Tuấn A là người đã tái phạm chưa được xóa án tích đã có hành vi tàng trữ trái phép trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4929 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.
[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: ““1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: ...o) Tái phạm nguy hiểm. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.
[5] Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tiền sự, có nhân thân xấu đã bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại phạm tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo để tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành. 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Dream II màu tím, đeo biển kiểm soát 20D1-190.75, tài liệu điều tra xác định số khung, số máy của xe đã bị đục xóa; hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình đã Quyết định tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi tại khu vực cầu T, thuộc huyện V, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Tuấn A 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2024. Phạt bị cáo 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- 3.1 Tịch thu tiêu hủy 0,4571 gam ma tuý, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói quản lý của Đào Tuấn A trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1084/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
- 3.2 Trả lại bị cáo Đào Tuấn A 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 23/10/2024).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/11/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 204/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Tuấn A - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
