Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/HS-ST

Ngày 18-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Ngôn.
  2. Bà Nguyễn Thị Lại.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 192/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 28/8/2024 đối với:

Họ tên: Lò Văn H, sinh ngày 22/8/2004; Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: không.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản Phiêng Mựt II, xã Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12.

Họ và tên bố: Lò Văn X, sinh năm 1972 (đã chết).

Họ và tên mẹ: Bạc Thị T, sinh năm 1972.

Anh chị em ruột: Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba.

Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án hình sự số 66/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Lò Văn H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Giữ người trái pháp luật” (ngày phạm tội ngày 02/10/2021, bị cáo phạm tội thời điểm dưới 18 tuổi, thuộc tội nghiêm trọng).

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà).

- Bị hại: Anh Lâm Văn T1, sinh năm 2000; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên toà).

Người làm chứng:

- Chị Hà Thị Q, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên toà).

- Chị Ngọc Thị Hồng V, sinh năm 2005; Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn H sinh năm 2004, trú tại Bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La đang phải chấp hành án phạt tù được hưởng án treo tại xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La từ năm 2022 về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tối ngày 04/5/2024, H đi xe mô tô nhãn hiệu JULONG, màu sơn đỏ-tím, biển kiểm soát 29M7-1636 đến ở nhờ tại phòng trọ của bạn là chị Hà Thị Q, sinh năm 2006, trú tại bản Phiêng Mựt II, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La đang thuê trọ tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, mục đích để tìm việc làm. Khoảng 15 giờ ngày 05/5/2024, sau khi ăn cơm, uống rượu tại phòng trọ cùng chị Qanh Lâm Văn T1, sinh năm 2000, trú tại thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (là bạn trai chị Q), chị Ngọc Thị Hồng V, sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang (là bạn chị Q) thì H cùng mọi người rủ nhau đi uống nước. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu JULONG, biển kiểm soát 29M7-1636 chở chị V, anh T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda WINNERX, màu sơn đen, biển kiểm soát 12B1- 182.11 chở chị Q ngồi sau cùng đi đến quán nước “Hồ N" thuộc tổ dân phố M, phường N, thị xã V để uống nước, nói chuyện. Ngồi uống nước đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H thấy xe mô tô của anh T1 có giá trị cao hơn xe mô tô H sử dụng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh T1 mang cầm đồ cho người khác lấy tiền chi tiêu. H nói dối anh T1 cho mượn xe mô tô đi lấy tiền, một lát sau đem trả; anh T1 tin H nói thật nên giao xe mô tô nhãn hiệu Honda WINNERX, màu sơn đen, biển kiểm soát 12B1- 182.11 của mình cho H mượn. Sau đó H điều khiển xe mô tô của anh T1 đi thẳng đến tỉnh Vĩnh Phúc để tìm cách cầm xe mô tô cho người khác. Tại đây, theo H khai, đã mang xe mô tô chiếm đoạt của anh T1 vào cửa hàng cầm đồ có tên “1992” ở thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, cầm xe cho một người đàn ông không biết tên, địa chỉ và không nhớ mặt ở trong cửa hàng lấy số tiền 5.000.000 đồng, không làm giấy tờ gì. Cầm xe mô tô của anh T1 xong, H bỏ về nhà, không quay lại gặp chị Q, anh T1 nữa và chi tiêu hết số tiền cầm xe mô tô.

Anh T1, chị Q sau khi chờ không thấy H quay lại trả xe mô tô, nên mang xe mô tô nhãn hiệu JULONG, biển kiểm soát 29M7-1636 của H bỏ lại tại quán về phòng trọ. Ngày 07/6/2024, anh T1 đã làm đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V về hành vi H chiếm đoạt xe mô tô của anh T1 nêu trên đồng thời giao nộp xe mô tô nhãn hiệu JULONG, biển kiểm soát 29M7-1636.

Ngày 08/6/2024, Công an thị xã V đến Công an xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La để làm việc về nội dung đơn trình báo của anh T1. Tại đây, H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe mô tô của anh T1 như nêu trên, đồng thời giao nộp: 01 điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, lắp sim số 0846.442.794.

Cùng ngày 08/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi cư trú của Lò Văn HBản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La, kết quả không thu giữ được tài sản, đồ vật gì.

Tại kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V định giá và kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WINNERX, màu sơn đen, biển kiểm soát 12B1- 182.11 của anh T1 bị chiếm đoạt ngày 05/5/2024 có trị giá 20.000.000 đồng

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh chủ cửa hàng cầm đồ “192” nơi H khai thế chấp xe mô tô của anh T1 nêu trên là anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991, trú tại thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Cửa hàng cầm đồ trên đã đóng cửa không hoạt động, hiện nay anh T2 đi đâu, gia đình, địa phương không nắm được nên chưa tiến hành làm việc được với anh T2. Bị cáo khai không nhận dạng được người nhận cầm xe mô tô. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng xe mô tô nhãn hiệu Honda WINNERX, màu sơn đen, biển kiểm soát 12B1- 182.11 nhưng chưa thu hồi được để trả lại bị hại.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu JULONG, biển kiểm soát 29M7-1636, H khai mua lại tại một cửa hàng bán xe không nhớ tên, địa chỉ cụ thể và không biết họ, tên, địa chỉ người bán, không làm giấy tờ mua bán chỉ nhớ tại khu vực Chợ M ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang từ trước đó và không chỉ được cửa hàng nơi mua xe. Tra cứu xe máy vật chứng, xác định xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Tiến hành xác minh xe mô tô nêu trên mang tên chủ sở hữu là anh Đặng Vũ B, sinh năm 1982, ở ngõ A, L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Hiện nay anh B đã chuyển đi sinh sống ở nơi khác, chính quyền địa phương không rõ địa chỉ nơi sinh sống mới nên Cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai. Do chưa làm rõ được chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên, nên Cơ quan điều tra tách ra để xác minh làm rõ và đề nghị xử lý sau.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 203/CT-VKS ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với bản án số 66/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt bị cáo 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Giữ người trái pháp luật”, buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai bản án từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2024 (bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2021 đến ngày 23/11/2021 của bản án số 66/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn).

Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật tố tụng dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lâm Văn T1 số tiền 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, lắp sim số 0846.442.794 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì. Bị hại không có tranh luận gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đ. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[3] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ ngày 05/5/2024, tại quán nước “Hồ N" ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Lò Văn H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản rồi dùng thủ đoạn gian dối (nói dối mượn xe đi có việc rồi đem trả lại) chiếm đoạt của anh Lâm Văn T1 xe mô tô nhãn hiệu Honda WINNERX, màu sơn đen, biển kiểm soát 12B1-182.11 trị giá 20.000.000 đồng. Sau đó, H mang xe mô tô chiếm đoạt được của anh T1 nêu trên cầm đồ cho người không biết họ tên, địa chỉ lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hiện Cơ quan điều tra không thu hồi được xe mô tô bị chiếm đoạt để trả bị hại.

[4] Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố Lò Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

[5] Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bản án hình sự số 66/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Lò Văn H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Giữ người trái pháp luật”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự bị cáo được coi là không có án tích, tuy nhiên bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên cần áp dụng khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp 01 năm tù của bản án số 66 với bản án ngày hôm nay (18/9/2024) để buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án và bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam của bản án số 66/2022/HSST ngày 16/8/2022 từ ngày 02/10/2021 đến ngày 23/11/2021.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Về vật chứng: 01 Điện thoại di động thu giữ là tài sản của bị cáo nhưng không sử dụng phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Trách nhiệm dân sự: anh Lâm văn T1 yêu cầu bị cáo Lò Văn H phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, hiện tại H chưa bồi thường khoản tiền nào cho anh T1. Cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lâm Văn T1 số tiền 20.000.000 đồng.

[10] Về Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tại địa phương xác định bị cáo không có tài sản gì, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

[12] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Lò Văn H phải chấp hành hình phạt 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt bị cáo 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Giữ người trái pháp luật”, thành hình phạt 01 (hai) năm tù.

    Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án, buộc bị cáo Lò Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2024 nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2021 đến ngày 23/11/2021 của Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

  2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật tố tụng dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lâm Văn T1 số tiền 20.000.000 đồng.
  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, lắp sim số 0846.442.794 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đông) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - Sở tư pháp;
  • - CQTHAHS Công an TX Việt Yên;
  • - CCTHADS thị xã Việt Yên;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Hồ sơ, Vp.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Trường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 204/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Hiệp lừa đảo tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger