|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 204/2024/KDTM-ST Ngày: 27-8-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Lan
- Bà Nguyễn Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLST-KDTM ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 588/2024/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng N
Trụ sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Trung K, sinh năm 1984; địa chỉ: A L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy ủy quyền số 691/GUQ-NHNoTB-KHCN ngày 15/4/2024. (Có mặt).
-
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972.
Địa chỉ: A đường D, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình giải quyết, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/12/2020, bà Nguyễn Thị M đã ký với Ngân hàng N - Chi nhánh T (sau đây gọi tắt là A hoặc ngân hàng) hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000668 để vay tiền với nội dung cơ bản như sau:
- Số tiền cho vay: 12.000.000.000 đồng
- Mục đích vay vốn: bổ sung vốn lưu động để kinh doanh
- Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng
- Thời gian cho vay: 12 tháng, kể từ ngày 22/12/2020.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, bị đơn đã thế chấp quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số 372, tờ bản đồ số 09 (BĐĐC) địa chỉ phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị M, theo hợp đồng thế chấp số 6360-LCL-202000672 ngày 18/12/2020.
Sau khi đã được nhận giải ngân, tới hạn trả nợ nhưng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng không trả nợ cho ngân hàng. Phía ngân hàng đã nhiều lần liên hệ bị đơn và hối thúc trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn chịu trách nhiệm trả các khoản nợ tạm tính đến thời điểm khởi kiện ngày 28/6/2023 như sau:
Nợ gốc: 12.000.000.000 đồng
Nợ lãi trong hạn: 348.493.151 đồng
Nợ lãi quá hạn: 154.246.575 đồng
Tổng cộng: 12.660.060.384 đồng
Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số 372, tờ bản đồ số 09 (BĐĐC), địa chỉ phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nêu trên để thu hồi nợ
Bà Nguyễn Thị M còn phải thanh toán cho Ngân hàng các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký, cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Bị đơn – bà Nguyễn Thị M trình bày: Bị đơn xác nhận có ký hợp đồng tín dụng như phía nguyên đơn trình bày. Do gặp khó khăn trong kinh doanh nên đề nghị ngân hàng G thời gian trả nợ thêm 06 tháng từ ngày 21/12/2023. Hết thời hạn trên bị đơn không trả được nợ cho ngân hàng thì đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ.
Tại phiên tòa,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như ban đầu: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bà M thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 14.603.561.645 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 12.000.000.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 1.749.041.097 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 854.520.548 đồng.
Yêu cầu thanh toán ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bà M còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay đã ký kết từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp, bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Bị đơn – bà Nguyễn Thị M vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp; kiến nghị Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn vị xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn - Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn - bà Nguyễn Thị M trả các khoản tiền còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000668 ngày 22/12/2020, mục đích vay là để bổ sung vốn kinh doanh. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết, quá trình nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn có văn bản lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồng tín dụng để giải quyết. Xét thấy, hợp đồng tín dụng và quá trình giải ngân đều được thực hiện tại Ngân hàng N - Chi nhánh quận T tại địa chỉ A L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét phía bị đơn – bà Nguyễn Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền còn thiếu tạm tính đến ngày đến ngày 27/8/2024 là 14.603.561.645 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000668 ngày 22/12/2020 và các báo cáo đề xuất kiêm giấy nhận nợ ngày 24/6/2021, 25/6/2021, 29/6/2021 thể hiện ngân hàng đã giải ngân cho bà M vay số tiền 12.000.000.000 đồng để bổ sung vốn kinh doanh. Căn cứ vào bản kê gốc lãi của nguyên đơn tại thời điểm khởi kiện ngày 28/6/2023 thì bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc kèm các khoản lãi phát sinh là 12.660.060.384 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn xác nhận khoản nợ với ngân hàng, không có ý kiến tranh chấp hay phản đối mà chỉ xin gia hạn thời hạn thanh toán là 06 tháng kể từ ngày 21/12/2023. Tuy nhiên đến nay, bị đơn vẫn không thanh toán cho nguyên đơn thêm bất cứ khoản tiền nào. Như vậy, có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng như nguyên đơn trình bày. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả toàn bộ số công nợ còn thiếu nêu trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ. Xét thấy, yêu cầu này là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận đã ký kết giữa các bên trong hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về phương thức và thời hạn thanh toán, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị đơn thanh toán một lần toàn bộ tiền nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật như phía nguyên đơn yêu cầu.
[2.4] Về yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn:
Xét tài sản thế chấp thực hiện theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số 372, tờ bản đồ số 09 (BĐĐC) địa chỉ phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị M (theo hợp đồng thế chấp số 6360-LCL-202000672 ngày 18/12/2020), để thu hồi nợ.
[3] Như đã nhận định trên Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về chi phí tố tụng và án phí:
- Áp dụng Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (Mười triệu) đồng do bị đơn chịu. Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền này nên bị đơn có nghĩa vụ thanh toán lại cho nguyên đơn.
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 14.603.561.645 đồng phải trả cho nguyên đơn. Án phí bị đơn phải chịu là 122.603.562 đồng. Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 299, 320, 322, 323, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng N:
1.1. Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền nợ tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 14.603.561.645 (Mười bốn tỉ, sáu trăm lẻ ba triệu, năm trăm sáu mươi mốt ngàn, sáu trăm bốn mươi lăm) đồng (trong đó bao gồm: nợ gốc là 12.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.749.041.097 đồng, nợ lãi quá hạn là 854.520.548 đồng) để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000668 ngày 22/12/2020 mà các bên đã ký kết.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Nguyễn Thị M còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 28/8/2024 theo mức lãi suất trong hạn, quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000668 ngày 22/12/2020 cho đến khi thanh toán hết nợ.
1.2. Trường hợp bà Nguyễn Thị M không thanh toán được số nợ nói trên, Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số 372, tờ bản đồ số 09 (BĐĐC) địa chỉ phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị M (theo Hợp đồng thế chấp số 6360-LCL-202000672 ngày 18/12/2020), để thu hồi nợ.
Khi bà Nguyễn Thị M thanh toán hết số nợ trên thì Ngân hàng N có nghĩa vụ hoàn trả lại toàn bộ các giấy tờ liên quan tài sản bảo đảm cho bên thế chấp.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Nguyễn Thị M đối với Ngân hàng N thì bà M có trách nhiệm thanh toán tiếp số tiền còn thiếu.
Trường hợp nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Nguyễn Thị M đối với Ngân hàng N thì hoàn trả phần giá trị chênh lệch cho bên thế chấp.
2. Về chi phí tố tụng và án phí:
- - Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (Mười triệu) đồng do bà Nguyễn Thị Minh c. Bà M có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng là chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng.
- - Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí sơ thẩm là 122.603.562 (Một trăm hai mươi hai triệu, sáu trăm lẻ ba ngàn, năm trăm sáu mươi hai) đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.330.030 (Sáu mươi triệu, ba trăm ba mươi ngàn, không trăm ba mươi) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023940 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 204/2024/KDTM-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 204/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N - Nguyễn Thị M
