Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/HSST

Ngày: 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Dương.
  2. Ông Lê Văn Rồi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Trương Hoài Bảo – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 271/2024/QĐST-HS ngày 29/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu P, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số G, Ấp G, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu T và bà Lê Thị Trúc T1; chung sống với Chung Thị Ngọc T2 (chưa đăng ký kết hôn) có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2024 đến ngày 31/3/2024 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Minh H, sinh năm 1998, tại tỉnh Phú Yên; nơi thường trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Ngọc H1 và bà Phan Thị P1; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2024 đến ngày 31/3/2024 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1970; thường trú: Số G, Ấp G, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKS.CC ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Nguyễn Hữu P và Trần Minh H về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/03/2024, Trần Minh H sử dụng tài khoản Zalo tên “Minh H” gọi điện vào tài khoản Z tên “Tao Nam Nề” của người thanh niên tên N (chưa rõ lai lịch) hỏi mua ma túy đá với giá 1.000.000 đồng, thì N đồng ý bán và yêu cầu H gửi định vị sẽ có người mang ma túy đến bán cho H. Khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Hữu P đang chờ khách tại quán nước không tên trên đường P, thuộc xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì N mang 01 gói ma túy đá được cất giấu trong vỏ gói thuốc hiệu Jet đưa cho P, kêu P mang ma túy đi bán cho H tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và N sẽ trả công cho P là 100.000 đồng thì P đồng ý. N sử dụng tài khoản Zalo “Nam khu giác vàng” gửi vị trí của H cho P qua ứng dụng Zalo tên “Nếu em còn tồn tại” và gửi số 0865452802 của H cho P để khi đến nơi P gọi H. N kêu P đi bán gói ma túy trên với giá 1.000.000 đồng và thu tiền mang về cho N thì P đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, P sử dụng số điện thoại 0396.014.xxx gọi cho H để giao ma túy và cả hai hẹn gặp tại khu vực ngã tư đường P với đường B, thuộc Ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi, P thấy H và nói là giao đồ (nghĩa là giao ma túy) cho N. H yêu cầu P chạy vào thêm 01 đoạn khuất, vắng người để giao nhận tiền và ma túy. Tại đây, P lấy gói ma túy trong gói thuốc lá Jet ra và đưa gói ma túy cho H cầm giữ trong tay trái. Vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày cùng ngày, H đang lấy điện thoại ra sử dụng số tài khoản 110865452802 thuộc Ngân hàng T4 để chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng qua số tài khoản 83302061999 thuộc Ngân hàng T5, trả tiền mua ma túy cho P nhưng chưa chuyển được thì bị Tổ tuần tra thuộc lực lượng Công an xã P phát hiện nghi vấn nên đưa P và H về Trụ sở Công an xã P tiến hành kiểm tra. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, tại Trụ sở Công an xã P thuộc Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh qua kiểm tra, H cầm gói ma túy trong tay trái đặt lên yên xe biển số 69D1-169.35 của H. H khai gói ma túy mua của P nên Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và đối với H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Hữu P kết quả dương tính với ma túy đá, đối với Trần Minh H kết quả âm tính với ma túy.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Minh H tại ấp B, xã N, huyện C 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Kết luận giám định số 3844/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Minh H và hình dấu Công an xã P, huyện C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9147g, loại Methamphetamine (BL106).

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử: Nguyễn Hữu P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Trần Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh luận tội:

  • Lời khai của hai bị cáo Nguyễn Hữu P và Trần Minh H phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo P bán trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9147g, loại Methamphetamine cho bị cáo H vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 21/03/2024, tại Ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an xã P phát hiện và bắt quả tang.
  • Hai bị cáo P và H chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Minh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Tại phiên tòa, bị cáo P khai đã bán ma túy cho N 02 lần, được N cho 150.000 đồng, bị cáo đồng ý nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền 150.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 69D1-169.35, số máy 5C6H-053714, số khung RLCS5C6H0EY053693: Qua xác minh, xe do ông Võ Minh Đ (sinh năm 1990; nơi thường trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh) mua và đứng tên chủ sở hữu. Năm 2018, ông Đ cho ông Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1991; nơi thường trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) mượn xe để đi làm. Đến ngày 21/3/2024, ông H2 cho H mượn xe đi công việc. Sau đó, H sử dụng xe đi mua ma tuý. Việc H sử dụng xe đi mua ma tuý ông H2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho ông Đ (BL104) là phù hợp nên không xét.
  • 01 xe máy hiệu DAELIMKREA, biển số: 71AA-077.57, số máy: RL8139FMB-L1SE106643, số khung: RP2DCB6UMEA006643: Qua xác minh xe do ông Nguyễn Văn H3 (sinh năm 1950; nơi thường trú: Số B Ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, ông H3 trình bày đã bán cho người thanh niên (không xác định được lai lịch). P khai mượn xe của ông Nguyễn Hữu T (sinh năm 1970; nơi thường trú: Ấp G, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, là cha của P). Ông T khai mua xe trên của ông Đỗ Thành Đ1 (sinh năm 1987; nơi thường trú: Ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Số C, Quốc lộ B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh - Chủ cửa hàng mua bán xe cũ Thành Đ1) có giấy đăng ký xe. Ông Đ1 khai mua xe của người mua bán ve chai (không rõ lai lịch). Ngày 21/3/2024, P mượn xe đi công việc, ông T không biết P dùng làm phương tiện đi bán ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
  • 01 gói niêm phong mang số vụ 1156/2024 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu S, sô Imei 1: 3577748367604569, số Imei 2: 359673487604564, là điện thoại của bị cáo H sử dụng liên lạc mua ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei 1: 865678030589518, số Imei 2: 83678030589500, là điện thoại của bị cáo P sử dụng liên lạc bán ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với người thanh niên tên N sử dụng tài khoản Zalo tên “N” và “Nam khu giác vàng” giao chất ma túy cho Nguyễn Hữu P bán cho Trần Minh H, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Kết quả xác minh số tài khoản 83302061999 thuộc Ngân hàng T5, tên chủ tài khoản Đặng Thanh N (sinh năm 1999; nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi) hiện không còn cư trú tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét.
  • Đối với Trần Minh T3 cho anh ruột Trần Minh H mượn số tài khoản 110865452802 thuộc Ngân hàng T4 sử dụng. Việc H chuyển tiền mua ma túy, T3 không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với T3 là có căn cứ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét.

Tại phiên tòa, bị cáo P khai đã bán ma túy cho N 02 lần, được N cho 150.000 đồng, bị cáo đồng ý nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền 150.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Hai bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng, hai bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ để hai bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, lời khai của hai bị cáo Nguyễn Hữu P và Trần Minh H phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Hai bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi: Bị cáo P bán trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9147g, loại Methamphetamine cho bị cáo H vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 21/03/2024, tại Ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo H đang cầm gói ma túy vừa mua của bị cáo P thì hai bị cáo bị Công an xã P phát hiện và bắt quả tang.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Trần Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2] Hai bị cáo nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện hai bị cáo đã bất chấp. Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Xét hai bị cáo không có tiền án, tiền sự, hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng, cùng có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử khoan hồng giảm một phần hình phạt đối với hai bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy hai bị cáo phạm tội lần đầu, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.

[4] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo P nộp lại số tiền 150.000 đồng, là tiền bị cáo được N cho 02 lần bị cáo bán ma túy cho N, sung vào ngân sách Nhà nước.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 69D1-169.35, số máy 5C6H-053714, số khung RLCS5C6H0EY053693: Qua xác minh, xe do ông Võ Minh Đ mua và đứng tên chủ sở hữu. Năm 2018, ông Đ cho ông Nguyễn Văn H2 mượn xe để đi làm. Đến ngày 21/3/2024, ông H2 cho H mượn xe đi công việc. Sau đó, H sử dụng xe đi mua ma tuý. Việc H sử dụng xe đi mua ma tuý ông H2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho ông Đ (BL104) là phù hợp.
  • 01 xe máy hiệu DAELIMKREA, biển số: 71AA-077.57, số máy: RL8139FMB-L1SE106643, số khung: RP2DCB6UMEA006643: Qua xác minh xe do ông Nguyễn Văn H3 đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, ông H3 trình bày đã bán cho người thanh niên (không xác định được lai lịch). Ông Nguyễn Hữu T, là cha của P, mua xe trên của ông Đỗ Thành Đ1 - Chủ cửa hàng mua bán xe cũ Thành Đ1. Ông Đ1 khai mua xe của người mua bán ve chai (không rõ lai lịch). Ngày 21/3/2024, P mượn xe đi công việc, ông T không biết P dùng làm phương tiện đi bán ma túy, ông T xin nhận lại xe. Ngày 08/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu số 1478/TB-ĐCSHS đối với xe máy biển số: 71AA-077.57, Hội đồng xét xử quyết định trả cho ông T. Trường hợp sau này có ai tranh chấp quyền sở hữu đối với chiếc xe nêu trên thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
  • 01 gói niêm phong mang số vụ 1156/2024 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu S, số Imei 1: 3577748367604569, số Imei 2: 359673487604564, là điện thoại của bị cáo H sử dụng liên lạc mua ma túy và 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei 1: 865678030589518, số Imei 2: 83678030589500, là điện thoại của bị cáo P sử dụng liên lạc bán ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • [6] Đối với người thanh niên tên N sử dụng tài khoản Zalo tên “N” và “Nam khu giác vàng” giao chất ma túy cho bị cáo P bán cho bị cáo H, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Kết quả xác minh số tài khoản 83302061999 thuộc Ngân hàng T5, tên chủ tài khoản Đặng Thanh N (sinh năm 1999; nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi) hiện không còn cư trú tại địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định số 1321/QĐ-ĐCSHS ngày 30/5/2024 tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy do đối tượng Đặng Thanh N nghi thực hiện để tiếp tục truy xét đối tượng và xử lý theo luật định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét là phù hợp.
  • Đối với Trần Minh T3 cho anh ruột là bị cáo Trần Minh H mượn số tài khoản 110865452802 thuộc Ngân hàng T4 sử dụng. Việc bị cáo H chuyển tiền mua ma túy, T3 không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với T3 là có căn cứ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét là phù hợp.

[7] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “...Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án...”, Hội đồng xét xử buộc hai bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát như trên là phù hợp.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2024.
  • Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2024.
  • Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P nộp lại số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1156/2024 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
    • Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S, số Imei 1: 3577748367604569, số Imei 2: 359673487604564 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei 1: 865678030589518, số Imei 2: 83678030589500.
    • Trả cho ông Nguyễn Hữu T 01 xe máy hiệu DAELIMKREA, biển số: 71AA-077.57, số máy: RL8139FMB-L1SE106643, số khung: RP2DCB6UMEA006643.
  • Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 134/PNK ngày 22/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BL102).
  • Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc hai bị cáo Nguyễn Hữu P và Trần Minh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Hai bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (02);
  • - VKSND huyện Củ Chi (01);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (01);
  • - Công an huyện Củ Chi (02);
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi (01);
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (05);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (01);
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/HSST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 204/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger