|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 204/2024/DS-ST Ngày: 03/5/2024 V/v “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí.
- Các Hội thẩm nhân dân.
1./ Ông Nguyễn Văn Quản
2./ Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12: Bà Võ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12 – Tp ..
- Vào ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 653/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 379/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T
Địa chỉ trụ sở: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện uỷ quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Phòng số 401, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Tuấn K, sinh năm 1959 ( Vắng mặt);
Địa chỉ: I, Khu phố C, phường T, Quận A, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN :
* Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Công ty T trình bày :
Ngày 20/08/2022 Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký kết Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3506924(sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Trần Tuấn K khoản vay trị giá 31.980.000đồng. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Trần Tuấn K Hợp đồng tín dụng, ông Trần Tuấn K nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.027.309đồng trong kỳ hạn 24kể từ ngày 25/09/2022đến ngày 25/08/2024
Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, từ ngày 26/09/2022ông Trần Tuấn K không thanh toán, thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.
Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Trần Tuấn K hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Trần Tuấn K về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Trần Tuấn K không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T.
Tính đến ngày 03/5/2024, ôngTrần Tuấn K trễ hạn không thanh toán các khoản tiền như sau:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.263.433đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 14.902.548 đồng.
- - Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 10.663.273 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 391.361.492đồng.
Nay Công ty T khởi kiện yêu cầu ông Trần Tuấn K phải trả lại cho Công ty T số tiền tạm tính đến ngày 03/5/2024 tổng cộng là 58.190.746đ, và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 04/5/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản vay.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn giải quyết vụ án thì chưa đảm bảo, cần xem xét rút kinh nghiệm. Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Ông Trần Tuấn K có địa chỉ cư trú tại Quận A, Tp . nên theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thủ tục tố tụng :
Nguyên đơn Công ty T ( Đại diện uỷ quyền bà Lâm Thị Thùy D) có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Tuấn K vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
Về nội dung hợp đồng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Khoản 2 Điều 92 BLTTDS quy định một bên không phản đối tình tiết bên kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và thông báo hòa giải nhưng đã không gửi văn bản phản đối những tình tiết bên nguyên đơn đưa ra. Như vậy bên nguyên đơn không phải chứng minh những tình tiết nguyên đơn đưa ra là chứng cứ. Từ đó:
Xét yêu cầu thanh toán nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3506924ngày 20/8/2022 giữa Công ty T và ông Trần Tuấn K, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa hai bên Công ty T và ông K đã có ký kết hợp đồng tín dụng. Đây là hợp đồng dân sự được hai bên Công ty T và ông K giao kết một cách tự nguyện.
Tính đến ngày 03/5/2024, ông K còn nợ Công ty T theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3506924ngày 20/8/2022 tổng cộng là 58.190.746đ, trong đó nợ gốc là 31.263.433đ, nợ lãi là 26.927.313đ.
Theo quy định tại Điều 91 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng năm 2010, hai bên có quyền thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật, nên những thỏa thuận giữa ông K và Công ty T về lãi suất là phù hợp pháp luật do đó chấp nhận.
Bị đơn ông K không thanh toán tiền gốc và lãi theo đúng Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3506924ngày 20/8/2022 nên ông K phải trả cho Công ty T tổng cộng số nợ tính đến ngày 03/5/2024 là 58.190.746đ và tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 04/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ gốc và lãi theo như thỏa thuận trong hợp đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí là 2.909.537₫ ( Hai triệu chín trăm lẻ chín nghìn, năm trăm ba mươi bảy đồng);
Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 117, 119, 298, 299, 317, 318, 323, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 4, Điều 90, Điều 91, 108 của Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Trần Tuấn K phải trả cho Công ty T số tiền tính đến ngày 03/5/2024 tổng cộng là 58.190.746đ, trong đó nợ gốc là 31.263.433đ, nợ lãi là 26.927.313đ theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3506924ngày 20/8/2022 ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ tiếp tục được điều chỉnh trong giai đoạn thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Tuấn K phải chịu án phí là 2.909.537₫ ( Hai triệu chín trăm lẻ chín nghìn, năm trăm ba mươi bảy đồng);
- Hoàn trả cho Công ty T số tiền 1.097.993đ( Một triệu không trăm chín mươi bảy nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0030963 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát trực tiếp cấp trên là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 204/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 204/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty T yêu cầu Trần Tuấn K trả tiền vay
