TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 204/2024/HS-ST Ngày 20-9-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy-Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 661/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 808/2024/QĐST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 844/2024/QĐST-HS ngày 13/9/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị V, sinh năm 1966 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E A, phường L, quận N, Hải Phòng; nơi sinh sống: Tổ dân phố số A phường V, quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị M (đều đã chết); có chồng là Phạm Tuấn Đ và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam ngày 26/9/2023; có mặt.
- Mai Thị H; sinh năm 1974 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú:: Thôn E xã K, huyện T, Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn N, xã A, huyện A, Hải Phòng nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Trung M1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; có chồng là Lê Đình T (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 30/11/2023; ngày 04/12/2023 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Phạm Văn C, sinh năm 1965 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện T, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình B (đã chết) và bà Lại Thị T1; có vợ là Phạm Thị Xuân L và có 02 con; bị tạm giữ ngày 30/11/2023; ngày 04/12/2023 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962, nơi cư trú: số F L, phường Đ, quận H, Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Hồng L1, sinh năm 1999, nơi cư trú: số A P, phường A, quận D, Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số A L, phường K, quận L, Hải Phòng; vắng mặt.
- Anh Vũ Đức T3, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ A V, phường V, quận L, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị V nguyên là cán bộ công tác tại Ủy ban kiểm tra Đảng ủy quận D, thành phố Hải Phòng, đã nghỉ hưu từ tháng 6 năm 2022. Trong một số mối quan hệ xã hội của mình, Nguyễn Thị V nói có nhiều mối quan hệ với những người có thẩm quyền có thể giúp xin việc làm vào công chức nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2021 đến nay, Nguyễn Thị V đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản dưới hình thức hứa hẹn nhận tiền để “chạy việc” nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ rồi không trả lại tiền; cùng các đối tượng khác sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng tháng 5/2021, ông Nguyễn Văn S được một người nam giới tên K (chưa xác định được lai lịch) giới thiệu đến gặp Nguyễn Thị V để nhờ xin việc cho con trai ông S là anh Nguyễn Viết C1 vào làm nhân viên an ninh soi chiếu tại Cảng hàng không quốc tế C – thuộc Tổng công ty H1. Vì nói với ông S việc có quan hệ tốt với phó giám đốc của Cảng hàng không quốc tế C2 nên sẽ “chạy” cho con ông S vào làm việc tại Cảng hàng không C với số tiền 350.000.000 đồng và yêu cầu ông S đưa trước 250.000.000 đồng, số tiền còn lại sau khi nhận việc sẽ thanh toán nốt, đồng thời yêu cầu con ông S chuẩn bị hồ sơ xin việc đưa cho V. Do tin tưởng V là Đảng viên lại là công chức nhà nước nên ngày 19/5/2021 ông S mang 250.000.000 đồng và hồ sơ xin việc của anh Nguyễn Viết C1 đến giao cho V tại nhà của Vì ở tổ A phường V, quận L, Hải Phòng. Sau khi nhận tiền thì V liên tục hẹn gia đình ông S sẽ xin việc cho C1 nhưng không thực hiện. Đến tháng 5/2023 sau khi chờ đợi quá lâu thì anh C1 đã chủ động nộp hồ sơ tuyển dụng vào Cảng hàng không quốc tế C. Lúc này C1 được biết kể từ khi nhận hồ sơ của C1, Vì chưa nộp hồ sơ đến Cảng hàng không quốc tế Cát B1 và việc tuyển dụng tại đây được tổ chức công khai. Lúc này ông S đã đến gặp V để đòi lại tiền thì V nói không có tiền để trả lại và hứa sẽ đi vay để trả lại cho ông S nhưng không thực hiện.
Ngày 30/10/2023 ông S đến cơ quan Công an trình báo sự việc và giao nộp 01 tờ giấy kẻ ngang bên trên có ghi “Giấy nhận tiền” lập ngày 19/5/2021 và có chữ ký người nhận tiền là Nguyễn Thị V và người giao tiền là Nguyễn Văn S. Nay ông Nguyễn Văn S yêu cầu Nguyễn Thị V trả lại số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) nêu trên.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị V khai nhận: Bản thân Vì không có quen biết ai ở Cảng hàng không quốc tế C có thẩm quyền, nhưng khi được ông S nói nguyện vọng muốn xin việc cho con, vì cần tiền sử dụng vào việc cá nhân nên V đã nói dối ông S là có mối quan hệ tốt với phó giám đốc Cảng hàng không C2 để ông S tin tưởng giao tiền cho V. Sau khi nhận tiền V đã đem đến đưa cho một nữ giới tên Trần Thị Thu T4, sinh năm 1980, trú tại: khu dân cư P, xã A, huyện A, Hải Phòng để “chạy” việc cho C1 nhưng sau đó người này bỏ trốn. Vì không trình báo Công an mà nói với ông S đang xin việc và bảo gia đình ông S tiếp tục chờ. Đến tháng 5/2023 khi biết V không làm gì gia đình ông S đến đòi lại tiền thì Vì khất lần và đến nay Vì chưa trả lại tiền cho gia đình ông S.
Xác minh tại Cảng hàng không quốc tế C2, Nguyễn Thị V không công tác tại Cảng hàng không quốc tế C2, không tham gia vào công tác tuyển dụng lao động của Cảng hàng không quốc tế C2 và việc tuyển dụng lao động tại Cảng hàng không C không thu khoản lệ phí nào. Anh Nguyễn Viết C1 có đăng ký tham gia đợt tuyển dụng của Cảng hàng không quốc tế C3 năm 2023 nhưng không trúng tuyển do bài thi không đạt.
Xác minh tại Công an xã A, huyện A, Hải Phòng cung cấp kể từ năm 2021 tại khu dân cư PG, xã A, huyện A, Hải Phòng không có công dân nào tên Trần Thị Thu T4, sinh năm 1980 sinh sống. Công an xã cũng không tiếp nhận vụ việc có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản liên quan đến công dân Trần Thị Thu T4.
Vụ thứ hai:
Chị Nguyễn Thị Hồng L1 - Giáo viên hợp đồng tại trường M2 - Số D V, phường Đ, quận N, Hải Phòng đã nộp hồ sơ thi tuyển trong kỳ thi tuyển dụng viên chức giáo viên mầm non do Ủy ban nhân dân quận N tổ chức vào tháng 9/2022. Sau đó trong lúc chờ thi tuyển chị L1 có nói chuyện với chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986, nơi cư trú: số A L, phường K, quận L, Hải Phòng về việc muốn tìm chỗ “chạy” để được xét biên chế, sau đó chị T2 kể lại nội dung này cho Nguyễn Thị V biết.
Sau đó Nguyễn Thị V hẹn gặp chị L1 tại nhà Vì (Tổ A phường V, quận L, Hải Phòng), tại đây V nói với L1 là Vì đang làm việc tại Ủy ban kiểm tra quận ủy Dương K1 và có quan hệ tốt với đồng chí K2 là Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N nên có thể giúp “chạy” cho L1 đỗ trong kỳ thi tuyển công chức với giá 150.000.000 đồng bằng cách can thiệp vào kết quả thi tuyển của chị L1 tại kỳ thi tuyển viên chức do Ủy ban nhân dân quận N tổ chức ngày 17/9/2022. Chị L1 nghĩ bà V là cán bộ công chức nhà nước sẽ có khả năng giúp L1 đỗ trong kỳ thi nên tin tưởng và vào các ngày 18/8/2022 và 22/8/2022 đã chuyển khoản 03 lần cho Vì số tiền 150.000.000 đồng (nội dung chuyển khoản ghi chuyển tiền thi viên chức quận N; chuyển tiền chạy viên chức).
Ngày 27/9/2022 khi chị L1 biết thông tin không trúng tuyển đã gọi cho V để đòi lại tiền thì V nói tiền đã đưa cho người khác để lo nhưng Ngô Quyền năm nay ít chỉ tiêu nên L1 mới không đỗ và chờ khi nào người này trả tiền sẽ trả lại tiền cho chị L1 nhưng không trả.
Đến tháng 11/2022 V liên lạc với chị L1 nói rằng Ủy ban nhân dân quận L tổ chức thi tuyển công chức đề nghị chị L1 nộp hồ sơ thi và sẽ giúp cho chị L1 đỗ công chức bằng cách tương tự như trên. Chị L1 tiếp tục tin tưởng Vì và nộp hồ sơ thi tuyển công chức tại Ủy ban nhân dân quận L nhưng vẫn không trúng tuyển. Chị L1 đến gặp V yêu cầu trả lại tiền thì V lấy nhiều lý do khác nhau xin khất nhưng sau đó không trả tiền cho chị L1.
Ngày 18/4/2023 chị L1 đã đến cơ quan Công an để trình báo sự việc và giao nộp 01 tờ giấy A4 bên trên có ghi “giấy biên nhận” và có chữ ký của Nguyễn Thị V và Nguyễn Thị T2; 01 tờ giấy bên trên có ghi “Giấy hẹn trả tiền” lập ngày 07/4/2023 có chữ ký của Nguyễn Thị V. Nay chị Nguyễn Thị Hồng L1 yêu cầu Nguyễn Thị V trả lại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) nêu trên.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị V khai: Khoảng tháng 6/2022 V nói với chị Nguyễn Thị T2 có suất biên chế vào các trường mầm non trên địa bàn thành phố nên chị T2 đã dẫn chị L1 đến gặp V. Sau khi nghe chị L1 trình bày nguyện vọng, mặc dù không có quan hệ gì và không có khả năng tác động đến điểm thi cho L1 nhưng để tạo niềm tin V vẫn nói với chị L1 là có quan hệ thân thiết với đồng chí K2 - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N có thể giúp L1 được tuyển dụng thông qua việc thi đỗ trong kỳ thi tuyển công chức tại Ủy ban nhân dân quận N. Chị L1 đã giao cho V số tiền 150.000.000 đồng.
Sau khi nhận tiền của chị L1, V đã sử dụng số tiền 150.000.000 đồng vào mục đích cá nhân nhưng vẫn yêu cầu chị L1 cung cấp tên tuổi, địa chỉ nói là để gửi cho người giúp “chạy” việc. Đến tháng 8/2022 chị L1 không trúng tuyển kỳ thi công chức nên yêu cầu Vì trả lại tiền. Lúc này V nói dối đã đưa tiền cho người khác để giúp L1 trúng tuyển nên chưa đòi lại được tiền. Bị chị L1 đòi tiền mà lại không có tiền trả cho chị L1 nên khi nhận được thông tin Ủy ban nhân dân quận L tổ chức thi tuyển công chức (tháng 12/2022), V đã nói với chị L1 nộp hồ sơ thi để Vì tiếp tục lo cho chị L1 trúng tuyển nhưng thực tế Vì không đưa tiền cho ai để lo giúp cho chị L1. Kết quả chị L1 không trúng tuyển.
Ngoài ra Nguyễn Thì V1 còn khai: Số tiền 150.000.000 Vì nhận của chị L1, sau khi không xin được việc cho chi L1, chị Nguyễn Thị T2 dẫn người nam giới tên T5 đến yêu cầu Vì vay 50.000.000đồng để trả cho chị L1 thông qua tài khoản của T2, bị cáo đã trả lãi 01 tháng cho T5. Việc Vì vay tiền và trả lãi cho anh T5, Vì không viết giấy tờ gì, không có tài liệu chúng cứ gì để chứng minh và chị T2 đã trả cho chị L1 hay chưa Vì cũng không nắm được.
Chị Nguyễn Thị T2 khai: Kể từ khi biết bà V1 không xin được việc cho L1 (là em họ T2) bà V1 chưa trả cho L1 khoản tiền nào. Việc bà V1 khai chị T2 dẫn người nam giới tên T5 đến yêu cầu Vì vay 50.000.000đồng để trả cho chị L1 là không đúng, chị T2 không biết và không dẫn ai tên T5 đến gặp bà V1 như bà vì đã khai.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành cho Nguyễn Thị V và Nguyễn Thị T2 đối chất. Kết quả cả hai vẫn giữ nguyên lời khai.
Vụ thứ ba:
Khoảng tháng 02/2023, do cần tiền nên Nguyễn Thị V vay của anh Vũ Đức T3 (là hàng xóm của Vì) 100.000.000 đồng (Một trăm triệu) đồng với lãi suất 2500 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 90%/năm). Sau đó đến tháng 3/2023 Vì muốn vay thêm 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) nữa thì anh T3 yêu cầu phải có sổ đỏ thế chấp để làm tin. Nguyễn Thị V không có sổ đỏ nên đã nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền. Vì đã lấy thông tin của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH272294, tên chủ sử dụng đất: TRẦN THỊ NGUYÊN; Địa chỉ thường trú: Thôn A, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; theo số hồ sơ số A.CN.002 do anh Đới Sỹ A, sinh năm 1982, nơi cư trú: tổ B phường H, quận D, Hải Phòng (là người đã gửi ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho Vì nhờ môi giới bán giúp vào khoảng tháng 4 năm 2022).
Để có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả Vì đã liên hệ với Mai Thị H (là bạn quen biết xã hội) làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đồng thời làm giả phần thông tin đính chính chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho Nguyễn Thị V làm chủ sử dụng với giá 10.000.000 đồng. Sau khi có được thông tin do V cung cấp, H đã liên lạc với Phạm Văn C để thuê C làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vì với giá 6.000.000 đồng. C đồng ý đến gặp H để lấy thông tin giấy tờ làm giả (01 bản photo căn cước công dân và 01 bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) rồi thuê một người trên mạng xã hội (chưa rõ lai lịch) làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên với giá 2.000.000 đồng. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, C đem đến giao cho H rồi lấy 6.000.000 đồng tiền công còn H sau đó đưa lại cho V.
Sau khi có được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả Vì đem đến đưa cho anh T3 để vay them số tiền 40.000.000 đồng, cộng với số tiền nợ cũ là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng), anh T3 đồng ý cho vay. Đến ngày 26/3/2023 V tiếp tục muốn vay thêm 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) thì anh T3 yêu cầu Vì gửi giấy tờ tùy thân (Căn cước công dân và giấy xác nhận nhân thân) để anh T3 làm thủ tục công chứng sang tên cho anh T3 thì mới cho vay thêm. Sau khi Vì gửi thông tin cá nhân thì anh T3 gửi ảnh chụp và thông tin của Vì đến Văn phòng C4 để kiểm tra thông tin pháp lý của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên và nhờ làm thủ tục công chứng chuyển nhượng sang tên cho anh T3 thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì đưa cho anh T3 là giả, nên đã trình báo Cơ quan Công an.
Ngày 04/4/2023 anh T3 đã giao nộp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH272294, tên chủ sử dụng đất: TRẦN THỊ NGUYÊN; Địa chỉ thường trú: Thôn A - xã H - huyện K - thành phố Hải Phòng; Tại mục “VI – Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ghi: ngày, tháng, năm: 06/10/2022 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị V CCCD số [...], địa chỉ tại số E A, L, Ngô Q, Hải Phòng theo số hồ sơ số 001432.CN.003.
Ngày 29/3/2023 chị Phan Thị Thu P, sinh năm 1988, nơi cư trú: 93/193 Văn Cao, tổ dân phố A, Đ, quận H, Hải Phòng giao nộp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH272294, tên chủ sử dụng đất: TRẦN THỊ NGUYÊN; Địa chỉ thường trú: Thôn A - xã H - huyện K - thành phố Hải Phòng; Tại mục “VI – Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ghi: ngày, tháng, năm: 26/5/2022 chuyển nhượng cho bà Phan Thị Thu P, CCCD số [...], địa chỉ tại 9 V, Tổ dân phố A, Đ, quận H, Thành phố Hải Phòng theo số hồ sơ số 001432.CN.002.
Tại Bản kết luận giám định số 167/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng K3 Công an thành phố H kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH272294, tên chủ sử dụng đất: TRẦN THỊ NGUYÊN; Địa chỉ thường trú: Thôn A - xã H - huyện K - thành phố Hải Phòng; Tại mục “VI – Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ghi: ngày, tháng, năm: 06/10/2022 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị V CCCD số [...], địa chỉ tại số E A, L, Ngô Q, Hải Phòng theo số hồ sơ số 001432.CN.003 là giả.
Tại Bản kết luận giám định 177/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng K3 Công an thành phố H kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH272294, tên chủ sử dụng đất: TRẦN THỊ NGUYÊN; Địa chỉ thường trú: Thôn A - xã H - huyện K - thành phố Hải Phòng; Tại mục “VI – Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ghi: ngày, tháng, năm: 26/05/2022 chuyển nhượng cho bà Phan Thị Thu P, CCCD số [...], địa chỉ tại 9 V, Tổ dân phố A, Đ, quận H, Thành phố Hải Phòng theo số hồ sơ số 001432.CN.002 là thật.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đức T3 đã khai nhận nội dung như trên. Ngoài ra anh Vũ Đức T3 khai: Anh cho Nguyễn Thị V vay số tiền 140.000.000 đồng, V đã trả lại anh T3 số tiền 40.000.000 đồng, còn lại 100.000.000 đồng Vì chưa trả. Tuy nhiên số tiền 100.000.000 đồng này là tiền anh cho V vay trước đó, không liên quan đến việc Vì sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nêu trên nên anh sẽ tự giải quyết với Vì, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác, anh T3 không yêu cầu xem xét giải quyết trong vụ án này và không có yêu cầu đề nghị gì khác.
- Vật chứng của vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH272294, tên chủ sử dụng đất: TRẦN THỊ NGUYÊN; Địa chỉ thường trú: Thôn A - xã H - huyện K - thành phố Hải Phòng; Tại mục “VI – Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ghi: ngày, tháng, năm: 26/05/2022 chuyển nhượng cho bà Phan Thị Thu P, CCCD số [...], địa chỉ tại 9 V, Tổ dân phố A, Đ, quận H, thành phố Hải Phòng theo số hồ sơ số 001432.CN.002 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phan Thị Thu P.
Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH272294, tên chủ sử dụng đất: TRẦN THỊ NGUYÊN; Địa chỉ thường trú: Thôn A - xã H - huyện K - thành phố Hải Phòng; Tại mục “VI – Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ghi: ngày, tháng, năm: 06/10/2022 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị V CCCD số [...], địa chỉ tại số E A, L, Ngô Q, Hải Phòng theo số hồ sơ số 001432.CN.003; 01 tờ giấy A4 bên trên có ghi “giấy biên nhận” có chữ ký của Nguyễn Thị V và Nguyễn Thị T2; 01 tờ giấy bên trên có ghi “Giấy hẹn trả tiền” lập ngày 07/4/2023 có chữ ký của Nguyễn Thị V; 01 tờ giấy kẻ ngang bên trên có ghi “Giấy nhận tiền” lập ngày 19/5/2021 có chữ ký của Nguyễn Thì V1 và Nguyễn Văn S chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 138/CT-VKSLC ngày 06/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Đối với Vũ Đức T3 cho vay tiền với mức lãi suất là 2.500 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương 90%/01 năm), chưa đủ cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với Nguyễn Thị T2 là người giới thiệu Nguyễn Thị Hồng L1 đến gặp Nguyễn Thị V để lo việc thi tuyển công chức nhưng không biết V lừa đảo chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng của chị L1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử:
- - Ngày 11/9/2024 bị cáo Mai Thị H và bị cáo Phạm Văn C, mỗi bị cáo đã tự nguyện nộp 4.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính (Theo các biên lai thu tiền số 0003269 và 0003270 ngày 11/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng).
- Tại phiên tòa, bị hại là ông Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị Hồng L1 vắng mặt, song đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.
- Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị V, Mai Thị H và Phạm Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố truy tố các bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị V mức án từ 12 đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 12 năm 06 tháng đến 13 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo V.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mai Thị H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn C mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C.
- - Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải bồi thường cho các bị hại: Ông Nguyễn Văn S số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng); chị Nguyễn Thị Hồng L1 số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Đối với việc Nguyễn Thị V khai chị Nguyễn Thị T2 dẫn người nam giới tên T5 đến yêu cầu Vì vay 50.000.000 đồng để trả cho chị L1 thông qua tài khoản của T2, bị cáo phải trả lãi cho T5 một tháng. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận.
Đối với số tiền 140.000.000 đồng Nguyễn Thị V đã vay của anh Vũ Đức T3 (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), V đã trả cho anh T3 40.000.000 đồng, số còn lại 100.000.000 đồng anh T3 không yêu cầu xem xét giải quyết trong vụ án này và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Về khoản tiền thu lợi bất chính: Đối với số tiền 4.000.000 đồng do bị cáo Mai Thị H giao nộp và số tiền 4.000.000 đồng do bị cáo Phạm Văn C giao nộp, xét đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí của Tòa án: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
- Về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 6/2023 Nguyễn Thị V đã thực hiện hành vi dùng thủ đoạn gian dối dưới hình thức tạo lòng tin có thể tác động thi đỗ vào các kỳ thi tuyển công chức trên địa bàn thành phố Hải Phòng để chiếm đoạt 250.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn S và 150.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hồng L1. Tổng số tiền Nguyễn Thị V chiếm đoạt của ông S và chị L1 là 400.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị V đã thỏa mãn cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- Về hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”: Nguyễn Thị V đã thực hiện hành vi cung cấp thông tin để Mai Thị H, Phạm Văn C thuê người làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với nội dung về phần thông tin đính chính chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho Nguyễn Thị V nhằm tạo lòng tin đối với anh Vũ Đức T3 mục đích để vay thêm 40.000.000 đồng của anh T3. Sau khi bị anh T3 phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì đưa cho anh T3 làm tin để vay tiền là giả Nguyễn Thị V đã trả cho anh T3 số tiền 40.000.000 đồng. Số tiền còn lại 100.000.000 đồng Nguyễn Thị V vay của anh T3 trước thời điểm anh T3 yêu cầu Vì phải cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin. Do đó không đủ căn cứ để xử lý Nguyễn Thị V về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Song hành vi cung cấp thông tin để Mai Thị H, Phạm Văn C thuê người làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị V và hành vi Mai Thị H, Phạm Văn C thuê người làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên của các bị cáo đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự .
- Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước gây mất trật tự xã hội. Các bị cáo biết được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý nên cần xử lý nghiêm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 6/2023 bị cáo Nguyễn Thị V 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 250.000.000 đồng của ông S và 150.000.000 đồng của chị L1, mỗi lần đều đủ cấu thành tội phạm, nên bị cáo Nguyễn Thị V phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo; bị hại là ông Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị Hồng L1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thị V; bị cáo Mai Thị H có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Phạm Văn C có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; tại giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
- Riêng đối với bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” nên căn cứ điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
- Về đánh giá vai trò và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
- Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội độc lập trong vụ án nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
- Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”: Các bị cáo Nguyễn Thị V, Mai Thị H và Phạm Văn C cùng thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn và có vai trò ngang nhau. Cần căn cứ Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
- Xét thấy: Các bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Do bị cáo Nguyễn Thị V phạm 02 tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của 02 tội đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung:
- Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
- Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn S yêu cầu Nguyễn Thị V trả lại số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng); chị Nguyễn Thị Hồng L1 yêu cầu Nguyễn Thị V trả lại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải trả cho các bị hại số tiền nêu trên.
- Đối với việc Nguyễn Thị V khai chị Nguyễn Thị T2 dẫn người nam giới tên T5 đến yêu cầu Vì vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để trả cho chị L1 thông qua tài khoản của T2, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Vũ Đức T3 cho Nguyễn Thị V vay số tiền 140.000.000 đồng, V đã trả lại anh T3 số tiền 40.000.000 đồng, còn lại 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) Vì chưa trả. Nay anh T3 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết trong vụ án và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về khoản tiền thu lợi bất chính:
- Đối với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) do bị cáo Mai Thị H giao nộp và số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) do bị cáo Phạm Văn C giao nộp, xét đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí:
- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Thị V, Mai Thị H và Phạm Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị V còn phải chịu 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị V; Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C.
- Tuyên bố :
- + Bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- + Các bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Thị V 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Thị V chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 9 năm 2023.
- + Bị cáo Mai Thị H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Mai Thị H cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- + Bị cáo Phạm Văn C 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Văn C cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải bồi thường cho các bị hại: Ông Nguyễn Văn S số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng); chị Nguyễn Thị Hồng L1 số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền nói trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về tiền thu lợi bất chính:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) do bị cáo Mai Thị H giao nộp và số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) do bị cáo Phạm Văn C giao nộp (Theo các biên lai thu tiền số 0003269 và 0003270 ngày 11/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân Hải Phòng).
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Mai Thị H và Phạm Văn C.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo: Nguyễn Thị V, Mai Thị H và Phạm Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị V còn phải chịu 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 204/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Vì
