Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/DSPT

Ngày: 20 - 5 - 2024

V/v “tranh chấp ranh giới

giữa các bất động sản liền kề,

bồi thường thiệt hại do công

trình xây dựng khác gây nên

và quyền thoát nước qua bất

động sản liền kề”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quyến;
  • Bà Võ Bích Hải.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 15 và 20 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 279/2023/TLPT- DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới giữa các bất động sản liền kề, bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây nên và quyền thoát nước qua bất động sản liền kề”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS – ST ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ô Môn bị nguyên đơn, bị đơn ông Lê Hoàng T kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 554/2023/QĐPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Kim T1, sinh năm 19581; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  2. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

    Ông Trần Quang T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1994; địa chỉ: Số H N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  3. Bị đơn:
    1. Ông Trần Thiện N, sinh năm: 1968; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
    2. - Người bảo vệ quyền và lợp ích hợp pháp cho ông Trần Thiện N: Bà Phan Thị Ngọc T3; địa chỉ: Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C. (có mặt)

    3. Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Thị Kiều D, sinh năm 1980; (vắng mặt)
    2. Đại diện hợp pháp của bà D: Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    3. Bà Lê Thị Lệ T4, sinh năm 1973; (vắng mặt)
    4. Ông Trần Văn T5, sinh năm 1953; (vắng mặt)
    5. Đại diện hợp pháp của ông T5: Ông Trần Quang T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    6. Ông Trần Quang T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  5. Người kháng cáo: Bà Võ Kim T1, ông Lê Hoàng T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 16/10/2020 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 10/11/2021, và các liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày có nội dung như sau:

Bà Võ Kim T1 là người sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 5, diện tích 95m², tại đường T, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 477133, số vào sổ cấp GCN: CS05365 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 02/5/2019. Nguồn gốc phần đất này do bà nhận chuyển nhượng từ ông Đinh Văn T6 và bà Lê Thị Ngọc V, thời điểm nhận chuyển nhượng, hiện trạng phía sau tồn tại đường thoát nước từ trước đến nay, gia đình bà trả cho ông N 8.000.000 đồng (hai căn nhà của bà đang ở, mỗi căn 4.000.000 đồng) và các hộ dân lân cận, mỗi hộ trả cho cho ông N 4.000.000 đồng để mua lại đường nước này cùng sử dụng. Năm 2017, bà T1 tiến hành xây dựng nhà ở thì không xây dựng hết đất mà có chừa ra khoảng 01m đất, chiều ngang hết thửa 4,5m, nằm liền kề với đường thoát nước. Mục đích là tạo thuận lợi cho việc xử lý sự cố khi đường thoát nước bị nghẹt hay ngập nước...

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, bà T1 phát hiện ông Trần Thiện N đã đăng ký biến động lấn chiếm qua phần diện tích đất mà bà đã chừa ra không xây dựng như đã nêu trên, và ông N được UBND quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT365090, số vào sổ cấp GCN: CH05616 ngày 31/10/2019. Sau đó, ông N có bán bằng giấy tay phần đất đó cho ông Lê Hoàng T. Hiện nay, ông T sử dụng và xây dựng nhà ở làm nghẹt đường nước sử dụng chung, làm xâm hại đến quyền lợi của bà.

Trong quá trình cơ quan có thẩm quyền đang giải quyết, bị đơn ông T có hành vi xây dựng bức tường trên phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của bà T1, và che khuất nguyên vách cửa sau, lối thoát hiểm nhà bà T1, có diện tích ngang 2,8m x 1,5m kết cấu bằng gạch ống (chưa tô) và che mái tole trên phần đất này có kích thước ngang 0,5m x dài 4,2m. Sự việc đã được chính quyền địa phương xuống lập biên bản ngưng thi công trên phần đất đang tranh chấp để chờ tòa án phán quyết, nhiều lần ông T đã ký cam kết nhưng sau đó vẫn cố tình xây dựng, hoàn thành bức tường và che mái tole.

Tại phiên tòa, bà T1 xác định yêu cầu khởi kiện của mình như sau:

  1. Phần đất tranh chấp: theo bản trích đo tại vị trí A, hiện trạng có cạnh chiều ngang 4,7m giáp vách nhà của bà T1, cạnh bên là 0,5m, cạnh bên đối diện là 0,7m. Bà T1 yêu cầu tòa án xem xét công nhận bà là người sử dụng hợp pháp tại vị trí A nêu trên, có cạnh chiều ngang vẫn là 4,7m giáp vách nhà bà T1 nhưng hai cạnh bên, bà chỉ yêu cầu chiều dài của hai cạnh là bằng nhau 0,45m tính từ vách nhà của bà T1 đo ra (tiếp giáp với thửa 65 thể hiện trong bản trích đo). Đồng thời buộc ông N và ông T có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ bức tường và mái tole che chắn trên phần không gian có liên quan đối với phần đất bà yêu cầu được công nhận nêu trên.
  2. Phần còn lại của vị trí A, sau khi trừ ra phần bà T1 yêu cầu trên, bà T1 cho rằng là đường thoát nước chung (thuộc thửa đất 215 của ông N), bà yêu cầu được ổn định sử dụng.
  3. Buộc ông T bồi thường thiệt hại, tiền mất thu nhập do ông T xây dựng che khuất cửa sổ, người thuê nhà không tiếp tục thuê số tiền là bằng 84.900.000 đồng (trong đó mất thu nhập do không cho thuê được liên tiếp 10 tháng, mỗi tháng 7.000.000 đồng, và tiền tiền tổn thất tinh thần bằng 10 tháng lương tối thiểu, mỗi tháng 1.490.000 đồng), và tiếp tục bồi thường cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

- Bị đơn ông Trần Thiện N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N trình bày có nội dung sau:

Nguyên gia đình ông được cha mẹ để lại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT365090, số vào sổ: 05616, thửa 215, tờ bản đồ số 05, loại đất cây lâu năm, diện tích 1278m² (CLN) + 20.5m² CLN HLATGT số thửa 215 do UBND quận Ô cấp ngày 31/10/2019. Gia đình ông đã sử dụng ổn định từ trước đến nay. Bà Thu nhận chuyển nhượng lại thửa đất 65 của ông Đinh Văn T6 và bà Lê Thị Ngọc V (tiếp giáp với thửa 215 của ông N), năm 2015 bà T1 cất nhà và đã xây dựng hết diện tích chiều dài, còn bề ngang của bà T1 là 4,5m x dài 21,1m, hiện tại bà T1 xây dựng là 4,7m chiều ngang x dài 21,1m, có nghĩa là bà T1 đã xây dựng trái phép không đúng thực tế đã lấn diện tích chừa ra (0,2m²), dài 21,1m, tổng cộng diện tích là 4,22m².

Nguyên đơn cho rằng, ông đăng ký biến động lấn chiếm là không có căn cứ, không đúng sự thật, vì lúc ông làm đơn xin đăng ký điều chỉnh diện tích, có các hộ tứ cận đồng ý ký tên giáp ranh và có tờ trình của UBND quận Ô xem xét ký duyệt, và khi bà T1 xin điều chỉnh ranh giới, mốc giới thửa đất ông cũng có ký giáp ranh với bà T1.

Đối với đường thoát nước, bà T1 đề cập đến ở phía sau là do trước đây các hộ lân cận sử dụng xả nước dơ bẩn tràn lan, ruồi muỗi chuột bọ, vòi tủa trên đất của ông, ông mới không cho tiếp tục sử dụng. Từ đó, các hộ mới hỏi ông xin làm cống thoát nước cho gọn, sạch sẽ đặt nhờ trên đất ông. Bà T1 đưa ông 8.000.000 đồng, các hộ đưa 4.000.000 đồng là trả tiền mua vật tư, công thợ, ống nước, xây hố gas, chứ không phải là tiền ông bán đường thoát nước như bà T1 trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N có đơn phản tố, nhưng sau đó, ông N đã rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố và đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu bà T1 ông không chấp nhận, riêng phần đường thoát nước ông đồng ý cho bà T1 ổn định sử dụng đến khi không còn sử dụng được nữa.

Bị đơn Ông Lê Hoàng T có yêu cầu phản tố: Yêu cầu tòa án công nhận phần đất đang tranh chấp là quyền sử dụng đất hợp pháp của ông T, và yêu cầu bà T1 phải tháo dỡ máng xối, và tìm đường thoát nước khác để sử dụng, với các lý do sau:

Nguyên gia đình ông có nhận chuyển nhượng lại phần đất của ông Trần Thiện N cùng bà Lê Thị Lệ T4: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT365090, số vào sổ: 05616, thửa 215+241, tờ bản đồ số 05, loại đất ở Đô thị và trồng cây lâu năm, diện tích 166,8m² do UBND quận Ô cấp ngày 31/10/2019. Ngoài ra, ông T còn nhận chuyển nhượng của ông N bằng giấy tay phần đất giáp ranh với bà T1, có diện tích bao gồm hết phần đất đang tranh chấp tại vị trí A theo kết quả trích đo địa chính ngày 30/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường thành phố C và một phần đất hiện tại ông T đang sử dụng (phần này không nằm trong kết quả trích đo địa chính và vẫn còn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N tại các thửa đất nêu trên)

Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông đã sử dụng ổn định từ trước cho đến nay, đến nay bà T1 đã làm đơn khởi kiện tranh chấp ranh đất và đòi đường nước chung là không đúng, vì đất của ông có ranh giới. Ông nhận chuyển nhượng đất của ông N, tứ cận có ký giáp ranh và bà T1 cũng có ký tên trên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất với ông N.Thời gian sinh sống tại đây thì bà T1 xây dựng nhà và lấn chiếm khoảng không gian trên đất của ông 2,5 tấc làm máng xối và đường ống nước thải chôn dưới phần đất của ông.

Đối với đường thoát nước, theo ông được biết bên bà T1 trước đây có xin Ủy ban quận Ô cho phép đào lộ sang đường để đặt ống thoát nước và Ủy ban quận cũng đã cho bà nhưng bà T1 không thực hiện, lại đòi đi ngang đường nước qua đất ông là điều vô lý. Tuy nhiên, muốn vụ việc không càng thêm phức tạp, phần đường thoát nước hiện tại ông N đã đồng ý giao lại cho ông quản lý, ông đồng ý cho bà T1 tiếp tục ổn định sử dụng đến khi nào không còn sử dụng được nữa vì lý do khách quan.

Ngoài ra, ông T còn cho rằng, ông thấy kết quả trích đo địa chính ngày 30/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường thành phố C không đúng với kích thước so với Biên bản ghi nhận hiện trạng công trình nhà ở của phòng Quản lý Đô thị quận Ô lập ngày 31/01/2019? Vì vây, ông T không chấp nhận theo kết quả đo đạc của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường thành phố C, đồng thời yêu cầu Hội đồng xét xử phải căn cứ vào kết quả đo đạc theo Biên bản ghi nhận hiện trạng công trình nhà ở của phòng Quản lý Đô thị quận Ô lập ngày 31/01/2019 để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại bản án số 30/2023/DS - ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân đan quận Ô đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
  2. Theo kết quả trích đo địa chính ngày 30/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường thành phố C, tại vị trí A hiện trạng có cạnh chiều ngang 4,7m (giáp thửa 65), cạnh bên là 0,5m, cạnh bên đối diện là 0,7m. Theo đó, công nhận cho bà Võ Kim T1 một phần tại vị trí A nêu trên, có cạnh chiều ngang vẫn là 4,7m (giáp thửa 65), hai cạnh bên bằng nhau có chiều ra là 0,3m, tổng diện tích là: 0,3m x 4,7m = 1,41m².

    Buộc ông N và ông T phải có trách nhiệm tháo dỡ phần tường gạch đã xây dựng theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn để trả lại hiện trạng sử dụng cho bà T1.

    Phần nền xi măng hiện hữu theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn có liên quan đến đến phần đất được công nhận cho bà T1 nêu trên (1,41m²) do ông T xây dựng, ổn định cho bà T1 sử dụng, không buộc bà T1 phải hoàn lại giá trị cho ông T.

    Bà T1 được quyền liên hệ với cơ quan chức năng thực hiện đăng ký chỉnh lý biến động lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo kết quả công nhận nêu trên.

    (kèm theo Bản trích đo địa chính số 264 /TTKTTNMT ngày 30/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C)

  3. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự: ổn định đường ống thoát nước cho bà T1 như hiện trạng sử dụng (tại vị trí A) đến khi ống thoát nước không còn sử dụng được nữa vì lý do khách quan.
  4. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn về việc yêu cầu ông T phải bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây nên số tiền là 84.900.000 đồng.
  5. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Trần Thiện N.
  6. không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T về việc yêu cầu xem xét công nhận phần đất tranh chấp là quyền sử dụng đất hợp pháp của ông, và yêu cầu buộc bà T1 phải tháo dỡ sê nô (máng xối) trên phần đất tranh chấp.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng; án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Bản án nêu trên phía nguyên đơn, bà Võ Kim T1, bị đơn ông Trần Hoàng T7 đã kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; Bị đơn, ông Trần Hoàng T7 vẫn giữ yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.

Đại diện bà T1 trình bày, căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 264/TTKTTNMT ngày 30/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thì thực tế sử dụng đất của bà T1 còn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là diện tích ngang 4,7m (cạnh giáp thửa 65) x dài 0,35m, tổng diện tích 0,45m x 4,7m = 1,64m². Do đó, yêu cầu HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại phần diện tích đất này. Ngoài ra, do ông T7 xây dựng bức tường trên phần đất của bà T1 làm che khuất cửa sổ nhà nên người thuê nhà không tiếp tục thuê nữa, vì vậy bà T1 bị mất thu nhập do không cho thuê được, số tiền bị mất thu nhập là 84.900.000đồng nên Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo này.

Ông T7 yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận cho ông quyền sử dụng đất ở vị trí A. Ông T7 cho rằng ông không được chứng kiến, giám sát cũng như tiếp cận diện tích đất thực tế khi đo đạc đất, ông ký vào biên bản khi chưa đo vẽ. Theo ông T8 đo địa chính số 264 /TTKTTNMT ngày 30/3/2023 là chưa chính xác nên Tòa án sử dụng kết quả này để làm căn cứ giải quyết vụ án là chưa phù hợp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa phiên tòa, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào những chứng có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS – ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân đan quận Ô, theo hướng chấp nhận 1 phần kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Hoàng T7.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của đại diện ủy quyền nguyên đơn tại phiên tòa xác định, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể: Buộc ông T7 bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng trái phép số tiền là 84.900.000đồng và yêu cầu phía bị đơn – ông T7 trả lại cho nguyên đơn quyền sử dụng đất với diện tích ngang 4,7m (cạnh giáp thửa 65) x dài 0,35m, tổng diện tích 0,45m x 4,7m = 1,6455m², vị trí đất tranh chấp được thể hiện tại vị trí A của bản trích đo địa chính số 264 ngày 21/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
  2. Xét yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Võ Kim T1. Nhận thấy, căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05365 ngày 02/5/2019 bà T1 được cấp quyền sử dụng đất diện tích 95m², trong đó có chiều ngang trước, ngang sau 4.5m², chiều dài 02 cạnh đều là 21.1m². Diện tích đất chi tiết này cũng được thể hiện tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất của bà T1 lập ngày 06/11/2018 có chữ ký giáp ranh của ông Trần Thiện N là chủ sử dụng đất liền kề. Tại phiên tòa, ông N cũng thừa nhận, khi bà T1 lập thủ tục đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông có ký giáp ranh và tại thời điểm đó nhà bà T1 đã xây dựng, phần máng xối phía trên vách tường sau có de ra khoảng 0,3 – 0,4m. Đồng thời, khi ông N đo đạc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T1 cũng có ký giáp ranh và ranh giới được xác định ở vị trí từ tường sau nhà bà T1 trở ra đất trống khoảng 0,3 – 0,4m. Lời trình bày của ông N là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất của bà T1 thời điểm bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là còn khoảng đất trống tính từ tường sau trở ra với diện tích tương ứng với phần máng xối phía trên. Đối chiếu với bản trích đo địa chính số 264 ngày 21/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C, hiện tại thực tế bà T1 đang sử dụng đất có chiều dài mỗi cạnh là 20,65m, còn thiếu mỗi cạnh 0,35m, chiều ngang cạnh giáp với thửa 65 của bị đơn là 4,70m dư 0.2m. Tại phiên tòa, bà T1 yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất có chiều dài 02 cạnh dài 0,35m yêu cầu này có thay đổi so với đơn kháng cáo nhưng là sự tự nguyện của nguyên đơn đồng thời phù hợp với diện tích đất nguyên đơn còn thiếu nên Hội đồng xét xử nghi nhận. Đối với cạnh chiều ngang giáp với thửa 65 của bị đơn 4,7m dư 0.2m, đại diện nguyên đơn cho rằng phần dư ra này là nằm trong thửa đất liền kề của bà T1 giáp với thửa 65 nhưng quá trình giải quyết thửa đất này chưa được đo đạc nên chưa xác định phần dư ra này có thuộc quyền sử dụng của bà T1 hay không, do đó không có căn cứ để buộc bị đơn trả lại phần dư ra này. Từ những phân tích trên, cho thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc trả lại quyền sử dụng đất có cơ sở chấp nhận một phần. Bản án sơ thẩm công nhận cho bà Võ Kim T1 một phần tại vị trí A của bản trích đo địa chính số 264 ngày 21/3/2023, có cạnh chiều ngang là 4,7m (giáp thửa 65), hai cạnh bên bằng nhau có chiều ra là 0,3m, tổng diện tích là: 0,3m x 4,7m = 1,41m² là chưa chính xác, cần điều chỉnh lại diện tích là 0,35m x 4,5m = 1,57m²;
  3. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà T1 về việc bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng trái phép tương ứng số tiền là 84.900.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù ông N, ông T7 có hành vi xây dựng công trình trên đất của bà T1 nhưng không có chứng cứ để chứng minh bà T1 có thiệt hại cũng như việc xây dựng này gây ra thiệt hại cho phía nguyên đơn. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ – HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi xây dựng trái phép này chưa đủ yếu tố để xác định trách nhiệm bồi thường của bị đơn nên yêu cầu này không được chấp nhận.
  4. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Hoàng T. Ông T yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận cho ông quyền sử dụng đất ở vị trí A. Nhận thấy, như đã phân tích trên, tại thời điểm bà T1, ông N thực hiện thủ tục đo đạc để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên đều có ký giáp ranh. Như vậy, thời điểm này ông N, bà T1 đã xác lập ranh giới đất của các bên. Hiện tại, bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất chi tiết được thể hiện như tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 06/11/2018 có chữ ký giáp ranh của ông Trần Thiện N. Bà T1 có chứng cứ để chứng minh 01 phần diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà, phần đất này do ông T đang sử dụng nên buộc ông T trả lại là có cơ sở. Ngược lại, ông T nhận chuyển nhượng đất từ ông N đến nay chưa lập thủ tục hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm ông T không cho Tòa án đo đạc để xác định diện tích thực tế có bị thiếu hay không nên yêu cầu được công nhận tòan bộ diện tích đất ở vị trí A trích đo địa chính số 264 ngày 21/3/2023 của ông T là không được chấp nhận.
  5. Ông T cho rằng ông không được chứng kiến, giám sát cũng như tiếp cận diện tích đất thực tế khi đo đạc đất, ông ký vào biên bản khi chưa đo vẽ. Tuy nhiên, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/5/2022 của Tòa án nhân dâ quận Ô thể hiện có mặt ông N, ông T và cả 02 bên đều có ký tên vào biên bản. Hơn nữa, ngày 12/4/2023 khi Tòa án ghi lời khai của ông T cũng như công khai chứng cứ là Bản trích đo địa chính số 264 ngày 21/3/2023 thì ông yêu cầu công nhận phần đất tại vị trí A của bản trích đo địa chính, không đề cập đến số liệu đo đạc không đúng cũng không có khiếu nại gì về kết quả đo đạc. Mặt khác, ông T không có chứng cứ gì chứng minh việc đo đạc này có vi phạm nên lời trình bày của ông về việc Tòa án sơ thẩm đo đạc không chính xác là không có cơ sở.
  6. Từ phân tích tại Mục [5] và [6] cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T là có căn cứ. Ông T kháng cáo nhưng nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên yêu cầu kháng cáo của ông là không có cơ sở chấp nhận.
  7. Bản án đã tuyên bà T1 là người cao tuổi thuộc trường hợp miễn nộp án phí nhưng Tòa án sơ thẩm không tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà T1 là thiếu sót cần điều chỉnh lại.
  8. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  9. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  10. Ông Trần Hoàng T7 phải chịu 300.000 đồng. Ông T7 được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng thành án phí.

    Bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà T1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - bà Võ Kim T1.
  2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hoàng T7.
  3. Sữa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân đan quận Ô, thành phố Cần Thơ.
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
    2. Theo kết quả trích đo địa chính ngày 30/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường thành phố C, tại vị trí A hiện trạng có cạnh chiều ngang 4,7m (giáp thửa 65), cạnh bên là 0,5m, cạnh bên đối diện là 0,7m. Theo đó, công nhận cho bà Võ Kim T1 một phần tại vị trí A nêu trên, có cạnh chiều ngang vẫn là 4,5m (giáp thửa 65), hai cạnh bên bằng nhau có chiều ra là 0,35m, tổng diện tích là: 0,35m x 4,5m = 1,57m².

      Buộc ông N và ông T7 phải có trách nhiệm tháo dỡ phần tường gạch đã xây dựng theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn để trả lại hiện trạng sử dụng cho bà T1.

      Phần nền xi măng hiện hữu theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn có liên quan đến đến phần đất được công nhận cho bà T1 nêu trên (1,57m²) do ông T7 xây dựng, ổn định cho bà T1 sử dụng, không buộc bà T1 phải hoàn lại giá trị cho ông T7.

      Bà T1 được quyền liên hệ với cơ quan chức năng thực hiện đăng ký chỉnh lý biến động lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo kết quả công nhận nêu trên.

      (kèm theo Bản trích đo địa chính số 264/TTKTTNMT ngày 30/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

    3. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự: ổn định đường ống thoát nước cho bà T1 như hiện trạng sử dụng (tại vị trí A) đến khi ống thoát nước không còn sử dụng được nữa vì lý do khách quan.
    4. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn về việc yêu cầu ông T7 phải bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây nên số tiền là 84.900.000 đồng (tám mươi bốn triệu chín trăm nghìn đồng).
  4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Trần Thiện N.
  5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T7 về việc yêu cầu xem xét công nhận phần đất tranh chấp là quyền sử dụng đất hợp pháp của ông, và yêu cầu buộc bà T1 phải tháo dỡ sê nô (máng xối) trên phần đất tranh chấp.
  6. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Thiện N và ông Lê Hoàng T mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Võ Kim T1 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
  7. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
    2. Bà Võ Kim T1 được miễn toàn bộ án phí, do thuộc trường hợp người cao tuổi. Bà T1 được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 011340 ngày 10/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

      Ông Lê Hoàng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003949 ngày 31/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

      Ông Trần Thiện N được nhận số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 011466 ngày 13/01/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

    3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Hoàng T7 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông T7 được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003678 ngày 26/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - TAND quận Ô Môn;
  • - Chi Cục THADS quận Ô Môn;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/DSPT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề, bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây nên và quyền thoát nước qua bất động sản liền kề

  • Số bản án: 204/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề, bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây nên và quyền thoát nước qua bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thu - Nhân - Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger