|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/HSST
Ngày: 16/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Minh
- Bà Lê Kim Phương
- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận X, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận X - Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận X, Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận X, Thành phố Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 215/2024/HSST, ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn A, sinh năm 2006. HKTT: Bản E, xã F, huyện G, tỉnh Sơn La. Chỗ ở: Không cố định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Văn hoá: 8/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lò Văn B, sinh năm 1980. Con bà: Lừ Thị C, sinh năm 1978. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số [...] lập ngày 04/7/2024 tại Công an quận X và lý lịch bị can thể hiện bị cáo: Không có tiền án và 01 tiền sự:
Về nhân thân:
- Ngày 02/3/2022, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 18 tháng tại trường G- Bộ C1.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lưu Đ L - Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh số 2 thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H. (có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại: Ông Tẩn Văn D, sinh năm 1997. HKTT: Thôn M, xã N, huyện O, tỉnh Lào Cai. Trú tại: M, N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Ông D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đ sinh năm 1991. Trú tại: Số A ngõ D H, phường K, quận Z, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân A và anh D (Sinh năm: 1997; HKTT: Thôn M, xã N, O, Lào Cai) đều là nhân viên quán phở địa chỉ số B phố Y, phường Y, X, Hà Nội. Khoảng 01h30' ngày 01/06/2024, khi anh D đang ngủ tại quán và có để 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone15 Plus màu xanh của anh D ở sát bên tay trái của anh D thì A đã trộm cắp điện thoại rồi bỏ trốn. Do A làm cùng anh D nên A có biết mật khẩu điện thoại của anh D là 111333. A đã thoát địa chỉ icloud của anh D trong máy và đăng nhập địa chỉ icloud của A vào điện thoại sau đó đến cửa hàng điện thoại di động B1 (địa chỉ I K, quận Z, Hà Nội) bán chiếc điện trộm cắp được cho anh Đ (Sinh năm: 1991, HKTT: Số A ngõ D H, phường K, quận Z, Hà Nội) là chủ cửa hàng với giá 16.000.000 đồng. Khi bán, A nói điện thoại trên là điện thoại của A không có nhu cầu sử dụng nên bán và A mở mật khẩu, thoát icloud đang đăng nhập trên máy để anh Đ không nghi ngờ. Sau khi bán điện thoại, A đã về quê tại Sơn La tiêu sài cá nhân còn 4.000.000 đồng và đến 18/6/2024 thì bắt xe xuống Hà Nội. Sau đó, A đến quán hát karaoke tại địa chỉ số F đường T, xã L, huyện S, Hà Nội để hát hết 8.000.000 đồng nhưng khi thanh toán A chỉ còn 4.000.000 đồng. Do đó, A xin quán ở lại làm việc để trừ nợ. Đến ngày 25/06/2024, khi A đang ở quán hát thì thấy anh D đến. Anh D đã thanh toán cho A số tiền còn nợ quán hát là 4.000.000 đồng rồi yêu cầu A về Công an phường Y, quận X để làm việc. Tại cơ quan Công an, A đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu xanh, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng do anh Đ giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 97/KL-HDĐGTS ngày 25/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận X kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu xanh, dung lượng 128GB đã qua sử dụng số Emei: SDW2XYR5QM0; trị giá 22.736.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 204/CT-VKS ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận X đã truy tố bị cáo A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm
Bị cáo A khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm nhân dân quận X sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời luận tội và đề nghị như sau:
- Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt A từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
- Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đ 16.000.000 đồng.
- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo: Việc bị cáo bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Đề nghị HĐXX cân nhắc hình phạt đối với bị cáo vì bị cáo thuộc người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế; bản thân bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện ra đầu thú. Đề nghị áp dụng mức án thấp hơn mức án mà VKS đề nghị cũng có tác giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo A sau khi nghe quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận X, lời bào chữa cho bị cáo, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận hành vi Trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận X, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận X, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h30' ngày 01/06/2024 tại số B phố Y, phường Y, quận X, Hà Nội, A có hành vi trộm cắp tài sản của anh D 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu xanh, dung lượng 128GB đã qua sử dụng, trị giá 22.736.000 đồng. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội. Viện kiểm sát nhân dân quận X truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[3]. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo chưa có tiền án tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm này bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4].Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập không ổn định, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại, do vậy thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường 4.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét gải quyết. Anh Đ yêu cầu bị cáo A phải hoàn trả số tiền 16.000.000 đồng mà anh Đ đã bỏ ra để mua điện thoại của A. Do vậy thấy cần buộc bị cáo phải trả lại số tiền này cho anh Đ.
[6]. Xử lý vật chứng: Không
[7]. Các vấn đề khác:
Đối với Đ: Quá trình điều tra, Đ và A đều khai Đ không biết điện thoại trên là do A phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Đ.
Bị cáo có đơn xin miễn án phí, do vậy bị cáo không phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án.
- - Xử phạt: A 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
- Về dân sự: Buộc bị cáo A phải bồi thường cho Đ 16.000.000 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Không
- Các vấn đề khác: Không
- Về án phí: Bị cáo được miễn phí hình sự sơ thẩm và đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Thu Nga |
Bản án số 204/2024/HSST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 204/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
