Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/HS-PT

Ngày: 16-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 155/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Thanh T. Do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Thanh T, sinh năm 1989; Nơi sinh: An Giang; Nơi cư trú: Khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Đỗ Hiệp G, sinh năm 1957 (sống) và bà Hồ Thị Mỹ P, sinh năm 1961 (sống); Vợ tên Tăng Thị Bích T1, sinh năm 1993; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đỗ Thanh T có giấy phép lái xe hạng C và làm nghề tài xế lái xe ô tô tải thuê cho anh Trần Hồ Thanh D.

Khoảng 04 giờ 58 phút ngày 30/11/2023, T điều khiển xe ô tô tải biển số 67C- 023.77 chở anh D đi từ phường M, thành phố L, tỉnh An Giang để đến tỉnh

Tiền Giang nhận heo về giao lại cho các lò mổ tại thành phố L, tỉnh An Giang. Khi điều khiển đến tuyến đường tỉnh lộ 846, đoạn thuộc ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp hướng từ xã Đ, huyện T đi xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, T quan sát thấy phía trước cùng chiều có xe ô tô khách (không rõ biển số) đang lưu thông. Lúc này, T mở tín hiệu đèn bên trái báo hiệu xin vượt, đồng thời đánh lái lấn sang phần đường bên trái để vượt xe ô tô khách mà không quan sát thấy có xe đang lưu thông trong đoạn đường Tuấn định vượt. Cùng lúc này, anh Huỳnh Bá N điều khiển xe mô tô biển số 66M1- 253.48 đang lưu thông theo chiều ngược lại trên phần đường bên trái theo hướng xe T đang điều khiển đến. Do khoảng cách gần, không kịp xử lý nên phần cột bàn nâng phía sau bên trái của xe ô tô tải do T điều khiển va chạm vào tay lái bên trái xe do anh N điều khiển làm cho anh N cùng xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả anh N tử vong trên đường đi cấp cứu, 02 phương tiện bị hư hỏng.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 30/11/2023 xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn là tỉnh lộ 846 thuộc ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hiện trường là đoạn đường thẳng, tâm nhìn không bị hạn chế, mặt đường rộng 07m, trải bê tông nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ tim đường đứt quãng màu vàng chia đoạn đường thành hai làn đường. Chọn mép đường bên phải theo hướng từ xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang đi xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp làm lề chuẩn và lấy trụ điện số 475TM làm mốc cố định. Xác định tâm vùng va chạm giữa xe ô tô tải biển số 67C- 023.77 và xe mô tô biển số 66M1- 253.48 cách mép lề chuẩn 1,9m và cách tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô tải biển số 67C- 023.77 là 40,3m.

Kết luận giám định tử thi số 1319/KLGĐTT-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đối với tử thi Huỳnh Bá N: Bị sốc đa chấn thương nặng và mất máu cấp là nguyên nhân tử vong.

Tại Kết luận giám định số 1361 và 1362/KL-KTHS cùng ngày 13/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu máu thu của Đỗ Thanh T không phát hiện thành phần cồn (Ethanol); mẫu máu thu giữ của Huỳnh Bá N có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 131,9mg/100ml máu.

Như vậy, nguyên nhân trực tiếp xảy ra tai nạn là do Đỗ Thanh T điều khiển xe ô tô tải biển số 67C- 023.77 vượt không đảm bảo an toàn, vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người.

Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

Của Đỗ Thanh T: 01 xe ô tô tải biển số 67C- 023.77 (xe anh Trần Hồ Thanh D mua của anh Đoàn Hoàng M nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu), 01 hợp đồng ủy quyền giữa Đoàn Hoàng M và Trần Hồ Thanh D về xe ô tô biển số 67C- 023.77, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe cùng mang biển số 67C- 023.77. Hiện đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là ông Trần Hồ Thanh D.

- 01 xe mô tô biển số 66M1- 253.48 của anh Huỳnh Bá N. Hiện đã trao trả xe này cho chị Nguyễn Ngọc Đ (vợ anh Huỳnh Bá N).

- 01 giấy phép lái xe hạng C cấp cho Đỗ Thanh T.

- 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 30/11/2023 tại ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đỗ Thanh T cùng với anh Trần Hồ Thanh D và người đại diện theo pháp luật của anh Huỳnh Bá N là chị Nguyễn Ngọc Đ, bà Lê Thị C và ông Huỳnh Bá T2 đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 210.000.000 đồng. Chị Đ, bà C và ông T2 đã nhận tiền xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, bị cáo Đỗ Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Đỗ Thanh T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo có cung cấp các tình tiết mới như bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không có việc làm và phải nuôi hai con còn nhỏ; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ mà bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thanh T.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ

quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 30/11/2023, trên tuyến đường tỉnh lộ 846 thuộc ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo T đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 67C- 023.77 tham gia giao thông vượt không đảm bảo an toàn dẫn đến xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 66M1- 253.48 do anh Huỳnh Bá N điều khiển đi theo chiều ngược lại, hậu quả làm anh N tử vong trên đường đi cấp cứu.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo điều khiển điều khiển xe ô tô tải vượt không đảm bảo an toàn dẫn đến xảy ra va chạm với xe mô tô điều khiển đi đúng phần đường theo chiều ngược lại, hậu quả làm chết một người. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo có cung cấp các tình tiết mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ không có việc làm và phải nuôi cha mẹ già và hai con còn nhỏ; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết mà bị cáo mới cung cấp cũng không phải là điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Đỗ Thanh T là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt chính đối với bị cáo Đỗ Thanh T.

2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo Đỗ Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười (02 bản);
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Tháp Mười;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/HS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 204/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger