TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 204/2024/HS-ST Ngày: 15/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hương
2. Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST–HS ngày 26 tháng 4 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Mạc Huỳnh Nữ V (tên gọi khác: N), sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 336/129/3 P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Nhà không số, đường L, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mạc Văn B và bà: Huỳnh Thị T; sống như vợ chồng với Phùng Quang N1 và có 01 con sinh năm 2020; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày 13/10/2023. (có mặt)
2. Nguyễn Công T1, sinh ngày: 08/02/2005 tại tỉnh Bình Thuận; thường trú: F T, khu phố T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nơi ở: Hẻm S, đường số H, tổ B, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Công T2 và bà: Nguyễn Thị M; chưa có vợ con; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày 11/10/2023. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lưu Châu Hương H, sinh năm: 1963.
Địa chỉ: 5 H, khu phố F, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người làm chứng:
1. Ông Trần Văn P, sinh năm: 2000.
Thường trú: Ấp C, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ở: Nhà trọ không số, đường số I, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Ông Phùng Quang N1, sinh năm: 1989.
Thường trú: Ấp L, xã H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Nơi ở: Nhà không số, đường L, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/10/2023, Nguyễn Công T1 gọi điện thoại cho Mạc Huỳnh Nữ V (tên thường gọi: chị H1) qua tài khoản Zalo Thiên A hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng. Do chưa có tiền trả nên T1 xin V cho thiếu nợ sẽ trả sau thì V đồng ý. V nói với T1 đến nhà của V tại nhà không số, đường L, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T để lấy ma túy. Sau đó, T1 hỏi mượn xe mô tô biển số 54R2-9270 của một người đàn ông tên Đ (không rõ lai lịch) là người quen của T1 để đi công việc và được Đ đồng ý. Khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô trên đến nhà V, dừng xe trước cửa nhà thì V đi ra trước cổng đưa cho T1 01 gói nylon bên trong có chứa ma túy. T1 cầm gói ma túy vừa mua được bỏ vào trong túi quần trước bên phải, rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi T1 đi đến trước địa chỉ số B L, khu phố L, phường L, thành phố T thì bị Công an kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần trước bên phải của T1 có 01 gói nylon bên trong có chứa chất nghi là ma túy. T1 khai nhận chất chứa trong gói nylon là ma túy, T1 vừa mua được của một người tên V về để sử dụng.
Qua xác minh, Cơ quan điều tra đưa Mạc Huỳnh Nữ V về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, V khai nhận: Bản thân V cũng là người nghiện ma túy, do muốn có ma túy đá để sử dụng và kiếm lời nên nên V mua ma túy của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) có tên Z là Mèo R về bán lại cho những người nghiện. Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/10/2023, V dùng điện thoại gọi Z tên M1 R hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.500.000 đồng. V chuyển tiền bằng ứng dụng Momo vào tài khoản của một người tên Phan Thị N2 (không rõ lai lịch). Sau khi chuyển tiền xong, đến khoảng 16 giờ cùng ngày, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) chạy G đến nhà giao cho V 01 hộp giấy bên trong có 01 gói nylon màu đen chứa 07 gói nylon nhỏ có chứa tinh thể không màu là ma túy. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi lực lượng Công an đến nhà, V sợ bị phát hiện nên lấy số ma túy trên bỏ vào trong 01 túi nylon màu xanh có in dòng chữ Điện máy xanh rồi treo trên hàng rào B40 bên hông nhà trọ. Sau đó, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện số ma túy do V cất giấu và V đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.
Quá trình điều tra xác định, Mạc Huỳnh Nữ V đã bán ma túy cho Trần Văn P 03 lần, cụ thể: Ngày 28/7/2023 bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine giá 200.000 đồng, ngày 15/9/2023 bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine giá 100.000 đồng, ngày 08/10/2023 bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine giá 100.000 đồng; thu được tổng số tiền 400.000 đồng. V bán ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Công T1 khoảng 10 lần, mỗi lần bán giá 200.000 đồng, thu được số tiền khoảng 2.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Mạc Huỳnh Nữ V và Nguyễn Công T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Kết luận giám định số 11387/KL-KTHS ngày 17/10/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
- Gói 1 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Công T1 là ma túy có khối lượng 0, 4622 gam; loại Methamphetamine.
- Gói 2 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Mạc Huỳnh Nữ V là ma tủy có khối lượng 2,3001 gam; loại Methamphetamine.
Vật chứng:
- 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể không máu là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4622 gam, thu giữ của Nguyễn Công T1.
- 01 gói nylon màu đen bên trong có 07 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 2,3001 gam, thu giữ của Mạc Huỳnh Nữ V.
- 01 hộp sữa có in chữ Dielac alpha bên trong có 01 bình thủy tinh tự chế để sử dụng ma túy và 02 gói nylon rỗng; 01 túi nylon có in chữ Điện máy xanh; 01 gói nylon rỗng màu đen.
- 01 điện thoại di động hiệu S, màu đen, có số sim 01211093622, thu giữ của Mạc Huỳnh Nữ V.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen có số sim 1: 09324677280; sim 2: 0382693701, thu giữ của Mạc Huỳnh Nữ V.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Dream biển số: 54R2-9270, số khung: C100M-D08538, số máy: LC150FMG-01413664, thu giữ của Nguyễn Công T1. Qua xác minh, biển số 54R2-9270 là của xe có nhãn hiệu Yoshida, số loại: Atlenta, số máy: DY152QM180165511, số khung: RNG9CJ1VH81000011, do bà Lưu Châu Hương H, trú tại số E H, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, đứng tên trong giấy đăng ký xe. Bà H cho biết năm 2009, có mua và sử dụng chiếc xe mô tô biển số 54R2-9270 nêu trên, sử dụng đến năm 2015 đã tặng cho xe một người quen nhưng không nhớ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài ra, bà H không mua bán, đứng tên và sử dụng chiếc xe mô tô, loại Dream, biển số 54R2 – 9270, số khung: C100M D08538, số máy: LC150FMG-01413664.
Tại Bản Cáo trạng số 169/CT-VKSTPTĐ ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Công T1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V, Nguyễn Công T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng ông Phùng Quang N1 trình bày: Ông sống chung như vợ chồng với bị cáo V, có con chung, ông không biết bị cáo V mua bán ma túy, thấy bị cáo có ma túy sử dụng nên ông cũng lấy để sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Công T1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt: bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; bị cáo T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V và Nguyễn Công T1 phù hợp với với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định... Từ đó có đủ căn cứ xác định: Từ đầu năm 2023 đến ngày 11/10/2023, bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V nhiều lần mua ma túy loại Methamphetamine của một người phụ nữ không rõ lai lịch có tên Z là Mèo R, đem về bán lại cho người nghiện kiếm lời. Bị cáo V bán cho Trần Văn P 03 lần và bán cho bị cáo Nguyễn Công T1 khoảng 10 lần, thu lợi tổng cộng được khoảng 2.400.000 đồng. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/10/2023, khi bị cáo T1 mua 0,4622 gam Methamphetamine của bị cáo V về sử dụng thì bị bắt quả tang. Tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo V thu giữ 2,3001 gam Methamphetamine, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Công T1 phạm tội 'Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Số ma túy thu giữ của bị cáo V dùng để bán, theo kết quả giám định là 2,3001 gam Methamphetamine, bị cáo bán cho Trần Văn P 03 lần và bán cho bị cáo T1 10 lần, do đó, cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo V. Bị cáo T1 bị thu giữ số ma túy, qua giám định là 0,4622 gam Methamphetamine, do đó cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo T1.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, cũng xem xét cho các bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo V đang mắc bệnh hiểm nghèo. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Cơ quan điều tra đã có Văn bản gửi Tổng Công ty H2 để xác minh thông tin tài khoản Z tên Mèo R đã bán ma túy cho bị cáo V nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với người tên Phan Thị N2 mà bị cáo V chuyển tiền bán ma túy, bị cáo sử dụng tài khoản Momo để chuyển tiền, không nhớ số tài khoản, hiện chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với Phùng Quang N1 là người sống như vợ chồng với bị cáo V, bị cáo V và ông N1 khai nhận ông N1 không biết bị cáo V mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Cơ quan điều tra đã bàn giao Trần Văn P và Phùng Quang N1 cho Công an phường xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[3]. Về xử lý vật chứng:
- Gói 1: Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định, được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Công T1, là ma túy có khối lượng 0,2835 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 2: Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định, được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Mạc Huỳnh Nữ V, là ma túy có khối lượng 1,8894 gam, loại Methamphetamine.
Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 hộp sữa có in chữ Dielac alpha bên trong có 01 bình thủy tinh tự chế để sử dụng ma túy và 02 gói nylon rỗng; 01 túi nylon có in chữ Điện máy xanh; 01 gói nylon rỗng màu đen. Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu S, màu đen, có số sim 01211093622, bị cáo V khai nhận không sử dụng vào việc mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen có số sim 1: 09324677280; sim 2: 0382693701, bị cáo V sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Dream biển số: 54R2-9270, số khung: C100M-D08538, số máy: LC150FMG-01413664. Qua xác minh, biển số 54R2-9270 là của xe có nhãn hiệu Yoshida, số loại: Atlenta, số máy: DY152QM180165511, số khung: RNG9CJ1VH81000011, do bà Lưu Châu Hương H đứng tên; bà H cho biết bà mua và sử dụng xe đến năm 2015 đã tặng cho xe một người quen nhưng không nhớ tên tuổi, địa chỉ; bà H không biết gì về chiếc xe mô tô loại Dream biển số 54R2 - 9270 trên. Kết quả xác minh số khung: C100M-D08538, số máy: LC150FMG-01413664 của xe mô tô hiệu Honda Dream không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo T1 khai nhận mượn xe của một người tên Đ không rõ lai lịch. Như vậy biển số 54R2-9270 không phải của chiếc xe mô tô hiệu Honda Dream và xe mô tô hiệu Honda Dream cũng không rõ nguồn gốc, xét thấy cần tịch thu xe sung vào ngân sách nhà nước.
- Bị cáo V khai nhận thu lợi từ việc bán ma túy số tiền 2.400.000 đồng, cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Công T1 phạm tội 'Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T1 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- Gói 1: Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định, được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Công T1, là ma túy có khối lượng 0,2835 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 2: được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Mạc Huỳnh Nữ V, là ma túy có khối lượng 1,8894 gam, loại Methamphetamine.
- 01 hộp sữa có in chữ Dielac alpha bên trong có 01 bình thủy tinh tự chế để sử dụng ma túy và 02 gói nylon rỗng; 01 túi nylon có in chữ Điện máy xanh; 01 gói nylon rỗng màu đen.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen có số sim 1: 09324677280; sim 2: 0382693701.
- 01 xe máy hiệu Honda Dream gắn biển số: 54R2-9270, số khung: C100M-D08538, số máy: LC150FMG-01413664.
Trả lại cho bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, có số sim 01211093622.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/234C ngày 03/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
Buộc bị cáo Mạc Huỳnh Nữ V nộp số tiền thu lợi bất chính 2.400.000 (Hai triệu bốn trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
7
8
Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 204/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
