Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/DS-ST

Ngày: 09/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lâm Thị Thu.
2/ Bà Lê Thị Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Bảo Trân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1076/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1129/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: Số B Đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thân Lê N – sinh năm 1978.
Địa chỉ: B Đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T – Sinh năm 1975
Địa chỉ: 4 Khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 01 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Thân Lê N trình bày:

Ngày 23/4/2018, ông Nguyễn Thanh T ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 356480 4742 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 23.000.000 đồng.

Kể từ ngày kích hoạt thẻ đến khi thẻ bị quá hạn ông T mới chỉ trả cho Ngân hàng số tiền (gồm gốc và lãi) là 6.406.000 đồng và không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng nên đến ngày 01/4/2019 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông T là 23.259.761 đồng sang nợ quá hạn. Sau đó ông T đã trả hết nợ gốc nhưng tiền lãi quá hạn vẫn chưa được ông T trả cho Ngân hàng. Số tiền lãi quá hạn ông T còn nợ Ngân hàng là 24.548.061 đồng. Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc yêu cầu ông T có trách nhiệm trả số tiền lãi quá hạn nhưng đến nay ông T vẫn không thực hiện việc trả số nợ còn lại cho Ngân hàng,

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thanh T trả số tiền lãi quá hạn còn lại là 24.548.061 đồng. Yêu cầu ông T trả toàn bộ số tiền làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ông Nguyễn Thanh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông T không có gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh T là bị đơn mặc dù mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Thanh T vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi quá hạn còn lại là 24.548.061 đồng.

Hội đồng xét xử xét:

Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 23 tháng 4 năm 2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng) có số thẻ 356480 – 4742. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 23.000.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định giữa ông T và Ngân hàng đã phát sinh giao dịch dân sự là vay tài sản.

Vì ông T vi phạm hợp đồng, không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn theo quy định trong hợp đồng nên kể từ ngày 01/4/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại là 23.259.761 đồng (gồm nợ gốc, phí trễ hạn và lãi trong hạn) sang nợ quá hạn. Theo Hợp đồng nêu trên, ông T và Ngân hàng đã thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn. Lãi suất quá hạn là 3,75%/tháng (lãi suất trong hạn là 2,5%/tháng x 150%). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T chỉ mới trả số nợ gốc còn lại là 23.259.761 đồng còn tiền lãi quá hạn phát sinh là 24.548.061 đồng không được ông T tiếp tục trả cho Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu buộc ông Nguyễn Thanh T phải trả cho Ngân hàng số tiền lãi quá hạn còn lại là 24.548.061 đồng làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Nguyễn Thanh T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền lãi quá hạn còn lại là 24.548.061 đồng (Hai mươi tư triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn không trăm sáu mươi mốt đồng), theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 356480 – 4742 ký ngày 23 tháng 4 năm 2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng).

Phương thức trả: Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm là 1.227.403 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm linh ba đồng) ông Nguyễn Thanh T phải chịu.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 613.702 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017506 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Nhà Bè;
  • - Chi cục THADS huyện Nhà Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Doãn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 204/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger