Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 204/2025/HS-ST

Ngày: 24-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên toà: ông Triệu Việt Anh Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 219/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 824/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thị N; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06 tháng 8 năm 1980, tại: Tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã Q (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Số B, đường D, khu phố Đ, phường T, thành phỗ D, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Bùi Văn M (chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K, Sinh năm: 1959; Chồng: Đoàn Văn P, Sinh năm: 1975 (đã ly hôn); Con: Có 05 người, nhỏ nhất sinh năm 2021; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, nhỏ nhất sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 30/11/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị N1 (Có mặt)
  2. Ông Nguyễn Ngọc Đ (Có mặt)

Cùng địa chỉ: B, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Vũ Đức T; Địa chỉ: D đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  2. Bà Thân Thị Thúy H; Địa chỉ: 2 Nguyễn Thị R, Xóm M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  3. Bà Thân Thị Tuyết N2; Địa chỉ: 2 Nguyễn Thị R, Xóm M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng từ năm 2012, Bùi Thị N làm giúp việc nhà cho bà Nguyễn Thị N1 tại số B, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm việc, từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 12 năm 2018, Bùi Thị N nhiều lần mượn tiền của bà Nguyễn Thị N1 để tiêu xài cá nhân tổng số tiền 300.000.000 đồng (có viết giấy mượn tiền); đã trả 50.000.000 đồng, còn nợ 250.000.000 đồng. Bùi Thị N thoả thuận sẽ trả 250.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị N1 trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 01/12/2018 nhưng chưa trả. Năm 2018, bà Nguyễn Thị N1 giao xe mô tô nhãn hiệu SYM Elizbeth biển số 59V1-374.56 cho Bùi Thị N làm phương tiện sử dụng hàng ngày. Do không có tiền nên Bùi Thị N đã bán xe mô tô biển số 59V1-374.56 cho người khác (không xác định được lai lịch và địa điểm bán) giá 5.000.000 đồng, đã tiêu xài hết. Sau đó, bà Nguyễn Thị N1 phát hiện việc Bùi Thị N chiếm đoạt xe mô tô biển số 59V1-374.56 nhưng đã không tố giác Cơ quan chức năng để Bùi Thị N tiếp tục phụ giúp việc nhà.

Đến ngày 18/01/2019, Bùi Thị N mượn ông Nguyễn Ngọc Đ (là con ruột của bà Nguyễn Thị N1) 50.000.000 đồng, có viết giấy mượn tiền, thời hạn trả vào tháng 5 năm 2019 nhưng chưa trả. Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 18/4/2019, Bùi Thị N tiếp tục mượn ông Đ xe mô tô nhãn hiệu honda Airblade biển số 54V-2060 để đi công việc và hẹn trả xe vào 16 giờ cùng ngày, ông Đ đồng ý. Bùi Thị N mang xe mô tô biển số 54V-2060 đi cầm cố tại tiệm cầm đồ "Đức Tân" địa chỉ số D, đường P, Phường A, quận G giá 15.000.000 đồng, đã tiêu xài hết. Sau đó, Bùi Thị N bỏ trốn đến phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương sinh sống, đi làm thuê nhiều nơi, chặn không liên lạc với bà Nguyễn Thị N1 và ông Đ.

Ngày 19/4/2019, ông Nguyễn Ngọc Đ trình báo sự việc trên đến Công an phường A, Quận A (bút lục 44).

Ngày 12/7/2019, ông Vũ Đức T là chủ tiệm cầm đồ “Đ” đến Công an P1, quận G trình báo về việc đã nhận cầm cố xe mô tô Honda Airblade biển số 54V9 – 2060 của Bùi Thị N, giá 15.000.000 đồng. Khi nhận cầm cố ông T hỏi Bùi Thị N xe có chính chủ không, N trả lời xe chính chủ. Sau đó, ông T kiểm tra sổ quản lý phát hiện tên chủ xe và tên giấy đăng ký xe không trùng khớp nhau, gọi điện thoại cho N không bắt máy. Nghi vấn xe không rõ nguồn gốc nên ông T tự nguyện giao nộp xe mô tô biển số 54V9 – 2060 cho Công an P1, quận G xử lý. Qua xác minh, Công an P1, quận G phát hiện xe mô tô trên là do Bùi Thị N chiếm đoạt của ông Đ nên chuyển cho Công an Q giải quyết.

Ngày 27/11/2024, ông Đ phát hiện Bùi Thị N tại quán C tại số L, đường L, Khu phố E, phường T, Quận A nên trình báo Công an phường T, Quận A (bút lục 41-42). Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Bùi Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được (bút lục 52-59).

Tại Kết luận giám định số 2828/KL-KTHS ngày 27/02/2025 của Phòng K1, Công an Thành phố H kết luận:

  • + Chữ ký, chữ viết họ tên Bùi Thị N trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký, chữ viết của Bùi Thị N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 (đã nêu ở mục II.2) do cùng một người ký, viết ra.
  • + Chữ viết nội dung tại mặt 2 và mặt 3 (trừ phần chữ viết ghi họ tên M1 - Nguyễn Thị K và chữ viết ghi họ tên Nguyễn Thị N1) trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ viết của Bùi Thị N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 (đã nêu ở mục II.2) do cùng một người viết ra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 197/KLĐG ngày 14/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A kết luận: 01 (một) xe môtô hiệu Honda Airblade biển số 54V9-2060, số máy 0450216-JF27E, số khung 399078-Y, trị giá 16.150.000 đồng (bút lục 145-146).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 285/KLĐG ngày 29/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A kết luận: 01 (một) xe môtô hiệu SYM Attila biển số 59V1-374.56, số máy ABD-003856, số khung DBD-003856, trị giá 4.750.000 đồng (bút lục 148).

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) xe môtô hiệu Honda Airblade biển số 54V9-2060, số máy 0450216-JF27E, số khung 399078-Y. Kết quả xác minh do bà Thân Thị Tuyết N2, sinh năm 1985, thường trú số 285/8 Nguyễn Thị R, xóm M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký. Khoảng tháng 12 năm 2010, bà N2 bán xe mô tô trên cho bà Thân Thị Thúy H (là chị của bà N2) không làm thủ tục sang tên đăng ký. Ngày 13/4/2019, bà H cho ông Đ mượn xe để sử dụng. Ngày 21/9/2019, Cơ quan điều tra đã lập biên bản trả xe mô tô 54V9-2060 cho ông Đ (bút lục 132, 133).
  • 01 (một) xe môtô hiệu SYM Attila biển số 59V1-374.56, số máy ABD-003856, số khung DBD-003856. Kết quả xác minh do bà Thân Thị Thúy H, sinh năm 1983, thường trú số 285/8 Nguyễn Thị R, xóm M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký. Năm 2016, bà H bán xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị N1 không làm thủ tục sang tên đăng ký, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm kiếm nhưng chưa có kết quả (bút lục 75-76, 134, 155).

Đồ vật tạm giữ:

  • 01 (một) giấy mượn tiền đề ngày 18/01/2019 và 01 (một) giấy mượn nợ đề ngày 10/7/2018 thu giữ của Nguyễn Ngọc Đ (bút lục 152-153).
  • 01 (một) sổ quản lý dịch vụ cầm đồ bản photo; 01 hợp đồng cầm đồ và thế chấp tài sản số 02131 ngày 12/7/2019 (bút lục 135-138).
  • 01 (một) đĩa DVD bên trong có file ghi lời khai ghi hình có âm thanh đối với Bùi Thị N (đính kèm hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu bị cáo N bồi thường dân sự số tiền 50.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị N1 yêu cầu bị cáo N1 bồi thường dân sự số tiền 250.000.000 đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đức T không yêu cầu bị cáo N1 bồi thường dân sự số tiền 15.000.000 đồng. Bị cáo N1 chưa thực hiện bồi thường cho bà Nguyễn Thị N1, ông Đ.

Tại Bản cáo trạng số: 202/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo 06 năm đến 07 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị xử lý theo quy định.

Bị hại ông Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu bị cáo N1 bồi thường dân sự số tiền 50.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị N1 yêu cầu bị cáo N1 bồi thường dân sự số tiền 250.000.000 đồng.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng từ năm 2018 đến năm 2019, tại số B, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Bùi Thị N lợi dụng sự tin tưởng để bà Nguyễn Thị N1 giao 01 (một) xe môtô hiệu SYM Attila biển số 59V1-374.56, trị giá 4.750.000 đồng và cho mượn 250.000.000 đồng; ông Nguyễn Ngọc Đ cho mượn 50.000.000 đồng và 01 (một) xe môtô hiệu Honda Airblade biển số 54V9-2060, trị giá 16.150.000 đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bà N1 và ông Đ là 320.900.000 đồng. Do đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Thị N đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Bùi Thị N đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác nên cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Trong quá quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với ông Vũ Đức T là chủ tiệm cầm đồ “Đức Tân” không biết xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 54V-2060 do bị can N do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý là có căn cứ.

Đối với bà Nguyễn Thị K (mẹ ruột của bị cáo N) không biết bị cáo N về tỉnh Bình Dương sinh sống để bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng:

Lưu hồ sơ vụ án :

  • 01 (một) giấy mượn tiền đề ngày 18/01/2019 và 01 (một) giấy mượn nợ đề ngày 10/7/2018 thu giữ của Nguyễn Ngọc Đ (bút lục 152-153).
  • 01 (một) sổ quản lý dịch vụ cầm đồ bản photo; 01 hợp đồng cầm đồ và thế chấp tài sản số 02131 ngày 12/7/2019 (bút lục 135-138).
  • 01 (một) đĩa DVD bên trong có file ghi lời khai ghi hình có âm thanh đối với Bùi Thị N (đính kèm hồ sơ vụ án).

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã lại cho chủ sở hữu: 01 (một) xe môtô hiệu Honda Airblade biển số 54V9-2060, số máy 0450216-JF27E, số khung 399078-Y.

Giao cho cơ quan thi hành án: Tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với 01 (một) xe môtô hiệu SYM Attila biển số 59V1-374.56, số máy ABD-003856, số khung DBD-003856. Nếu tìm thấy xe môtô hiệu SYM Attila biển số 59V1-374.56, số máy ABD-003856, số khung DBD-003856 thì trả cho bà Nguyễn Thị N1.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Đức T không yêu cầu bị cáo N1 bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Bùi Thị N bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho ông Nguyễn Ngọc Đ. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bị cáo Bùi Thị N bồi thường số tiền 250.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị N1. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị N: 07 (bảy) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2024.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Lưu hồ sơ vụ án :

  • 01 (một) giấy mượn tiền đề ngày 18/01/2019 và 01 (một) giấy mượn nợ đề ngày 10/7/2018 thu giữ của Nguyễn Ngọc Đ (bút lục 152-153).
  • 01 (một) sổ quản lý dịch vụ cầm đồ bản photo; 01 hợp đồng cầm đồ và thế chấp tài sản số 02131 ngày 12/7/2019 (bút lục 135-138).
  • 01 (một) đĩa DVD bên trong có file ghi lời khai ghi hình có âm thanh đối với Bùi Thị N (đính kèm hồ sơ vụ án).

Giao cho cơ quan thi hành án: Tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với 01 (một) xe môtô hiệu SYM Attila biển số 59V1-374.56, số máy ABD-003856, số khung DBD-003856. Nếu tìm thấy xe môtô hiệu SYM Attila biển số 59V1-374.56, số máy ABD-003856, số khung DBD-003856 thì trả cho bà Nguyễn Thị N1.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Bùi Thị N bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho ông Nguyễn Ngọc Đ. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bị cáo Bùi Thị N bồi thường số tiền 250.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị N1. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị cáo N1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4/ Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Bùi Thị N, các bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 СА ТР. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA TP. HCM (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA TP. HCM (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (1b);
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thị Thùy Trang

Hội thẩm nhân dân

Lâm Thị Nga Nguyễn Văn T1

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 204/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Nguyệt - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger