Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

Bản án số: 204/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-6-2025.

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Mạnh Tưởng.

ông Lê Mạnh Nhanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1991.

Nơi ĐKNKTT: thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: anh Đỗ Văn D, sinh năm 1990.

Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người làm chứng: bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1967.

Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

(Nguyên đơn có mặt; bị đơn, người làm chứng vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: chị và anh Đỗ Văn D người ở thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H ngày 17/4/2012.

Sau khi cưới, chị về nhà anh D làm dâu, vợ chồng chị đều làm nghề tự do. Cuộc sống chung vợ chồng sồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị và anh D có quá nhiều điểm đồng quan điểm, lối sống, sinh hoạt, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con. Gia đình hai bên đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ tháng 7/2023 anh chị sống ly thân, tháng 8/2023 anh D làm đơn xin ly hôn, sau đó rút yêu cầu, chị không đồng ý đề nghị Toà án tiếp tục giải quyết việc ly hôn. Do chị không đến Toà án làm việc theo quy định nên vụ án bị đình chỉ. Từ đó đến nay chị và anh D tiếp tục sống ly thân, anh chị không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh D không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: chị và anh Đỗ Văn D có 03 con chung, cháu Đỗ Thị Hà L sinh ngày 30/7/2012, cháu Đỗ Thị Hà V sinh ngày 10/4/2014 và cháu Đỗ Trung K sinh ngày 28/11/2018. Từ khi vợ chồng ly thân, cháu L và cháu V1 ở cùng chị; cháu K ở cùng anh D. Trước khi chị làm đơn khởi kiện, chị và anh D đã tự nguyện, thoả thuận thống nhất qua điện thoại với nội dung giao cháu L và cháu V cho chị tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu K cho anh D nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung và công nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai, không cho ai nợ, không yêu cầu giải quyết.

Về phía bị đơn là anh Đỗ Văn D, mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập đầy đủ, hợp lệ nhưng anh D đều vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày quan điểm, ý kiến, yêu cầu.

Ngày 30/5/2025 Thẩm phán giải quyết vụ án có Công văn số 68/2025/CV-TA đề nghị xác minh, cung cấp tài liệu chứng cứ gửi Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức. Tại Bản tự khai đề ngày 30/8/2023 (BL 56) anh Đỗ Văn D trình bày:

Anh và chị Trần Thị H tự nguyện kết hôn ngày 17/4/2012 tại UBND xã H, huyện M, thành phố H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hoà hợp, bất đồng quan điểm, chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, chửi nhau. Anh đang tìm nhiều biện pháp để vợ chồng vê đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng mỗi người một cuộc sống riêng, hai bên không ai quan tâm đến ai, nay anh xin ly hôn với chị Trần Thị H. Do công việc của anh rất bận nên đề nghị Toà án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải luôn cho vợ chồng anh.

- Về con chung: vợ chồng có 03 con chung, cháu Đỗ Thị Hà L, sinh ngày 30/7/2012, cháu Đỗ Thị Hà V sinh ngày 10/4/2014 và cháu Đỗ Trung K sinh ngày 28/11/2018. Anh xin nuôi cả ba con chung, việc cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị H, anh không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng anh không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 09/5/2025 (Bút lục số 25), bà Nguyễn Thị S là mẹ đẻ của anh Đỗ Văn D trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Đỗ Văn D, là mẹ chồng của chị Trần Thị H. Chị H và anh D tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn năm 2012. Sau khi cưới chị H về nhà gia đình bà làm dâu và cùng chung sống. Vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong lối sống, quan điểm sống. Khoảng năm 2023 chị H và anh D cũng đã làm thủ tục giải quyết ly hôn tại Toà án nhưng gia đình và anh chị đã hoà giải để anh D, chị H về đoàn tụ chung sống để cùng nuôi dạy con chung. Sau khi về chung sống tình cảm vợ chồng cũng không được cải thiện, mâu thuẫn lại trở nên trầm trọng hơn. Từ tháng 8/2023 chị H và anh D sống ly thân. Nay chị H xin ly hôn, nguyện vọng của gia đình là mong muốn Toà án giải quyết cho vợ chồng được về đoàn tụ, chung sống để cùng nuôi dạy con chung. Nếu chị H kiên quyết xin ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị H và anh D có 03 con chung là cháu Đỗ Thị Hà L sinh năm 2012, cháu Đỗ Thị Hà V sinh năm 2014 và cháu Đỗ Trung K sinh năm 2018. Từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân, cháu L và cháu V ở cùng chị H, cháu K ở cùng anh D. Các cháu được chăm sóc, ăn học đầy đủ về mọi mặt. Chị H cũng đã trao đổi lại với bà là vợ chồng đã tự thoả thuận được về việc phân chia, nuôi dưỡng con. Theo đó chị H sẽ được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu L và cháu V, anh D tiếp tục nuôi dưỡng cháu K.

Về tài sản chung, công nợ chung: từ khi vợ chồng anh chị kết hôn thì về ở với vợ chồng bà, anh D, chị H không xây dựng, tạo lập tài sản gì cho gia đình. Kinh tế vợ chồng chỉ đủ sinh hoạt và nuôi con nên không có tài sản gì và không nợ ai.

Hiện anh D vẫn đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa phương và thường xuyên liên lạc về gia đình. Anh D cũng biết chị H xin ly hôn nhưng do bận công việc nên anh không trực tiếp về Toà án làm việc.

Đối với các văn bản tố tụng của Toà án giao cho anh D, bà đã nhận thay và thông báo cho anh D ngay trong ngày. Từ khi anh D, chị H sống ly thân, anh D và cháu Đỗ Trung K đi làm ăn, bản thân bà không biết địa chỉ nơi ở, làm việc của anh D và nơi cháu K theo học học để cung cấp cho Toà án. Nguyện vọng của gia đình bà và anh D tha thiết xin Toà án giao cháu K cho anh D được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc. Do anh D bận công việc, anh đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh trong tất cả các buổi làm việc.

Tại Biên bản xác minh ngày 09/5/2025 (bút lục số 28) tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội thể hiện: anh Đỗ Văn D và chị Trần Thị H là vợ chồng, tự nguyện kết hôn, cưới có đăng ký ngày 17/4/2012 tại UBND xã H. Sau khi kết hôn, chị H về gia đình anh D làm dâu và cùng chung sống. Những năm đầu tình cảm vợ chồng còn hoà thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hoà hợp, bất đồng về lối sống, quan điểm sống và trong phát triển kinh tế. Khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ tháng 8/2023 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xin ly hôn anh D, địa phương thấy mâu thuẫn vợ chồng anh D, chị H đã đến mức trầm trọng, khó có thể hàn gắn được nữa. Vì vậy địa phương đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị H và anh D có 03 con chung là cháu Đỗ Thị Hà L, sinh ngày 30/7/2012, cháu Đỗ Thị Hà V sinh ngày 10/4/2014 và cháu Đỗ Trung K sinh ngày 28/11/2018. Hiện cháu L và cháu V ở cùng chị H; cháu K. Các cháu được bố mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ.

Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng không có kết quả do anh Nguyễn Văn N tha thiết xin ly hôn.

Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về việc giải quyết vụ án:

Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn dù được Tòa án nhiều lần giao các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt tại các phiên tòa sơ thẩm nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình:

  • - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị H.
  • - Giao con chung là cháu Đỗ Thị Hà L, sinh ngày 30/7/2012, cháu Đỗ Thị Hà V sinh ngày 10/4/2014 cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Đỗ Trung K sinh ngày 28/11/2018 cho anh Đỗ Văn D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, tự lập hoặc có sự thay đổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H, anh D về việc không yêu cầu phía bên kia phải cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung cho đến khi có yêu cầu mới.
  • - Tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn là chị Trần Thị H khởi kiện xin ly hôn bị đơn là anh Đỗ Văn D, cư trú tại thôn H, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Đỗ Văn D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn D tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận được một thời gian ngắn sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong lối sống, sinh hoạt, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn trong gia đình trở nên trầm trọng. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay, mỗi người có một cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến ai. Năm 2023 anh D đã làm đơn ly hôn gửi TAND huyện Mỹ Đức sau đó rút đơn; chị H không đồng ý nên tư cách người tham gia tố tụng thay đổi (chị H là nguyên đơn). Do chị H không đến Toà án làm việc nên TAND huyện Mỹ Đức đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình. Từ thời điểm đó đến nay anh D, chị H tiếp tục sống ly thân. Bản thân chị H và gia đình hai bên đã tìm mọi biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đều không có kết quả. Nay chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được và đề nghị cho chị được ly hôn anh D để ổn định cuộc sống.

Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn là anh Đỗ Văn D tham gia phiên tòa nhưng anh D đều vắng mặt. Việc này chứng tỏ anh Đỗ Văn D không quan tâm đến cuộc sống chung và hạnh phúc vợ chồng.

Từ những phân tích trên, xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu ly hôn của chị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung:

Chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn D có 03 con chung là cháu Đỗ Thị Hà L, sinh ngày 30/7/2012, cháu Đỗ Thị Hà V sinh ngày 10/4/2014 và cháu Đỗ Trung K sinh ngày 28/11/2018. Hiện cháu L và cháu V đang ở cùng chị H; cháu K đang ở cùng anh D. Để không xáo trộn cuộc sống của các con chung, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đỗ Thị Hà L và Đỗ Thị Hà V. Chị đồng ý giao cháu Đỗ Trung K cho anh D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh D không đến tham gia tố tụng tại các phiên họp và phiên tòa sơ thẩm nên không có quan điểm về việc nuôi con nhưng bà Nguyễn Thị S – là mẹ đẻ của anh D trình bày anh D cũng có nguyện vọng xin được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đỗ Trung K. Xét thấy nguyện vọng xin nuôi con của các đương sự đều là chính đáng, để không xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt, học tập và đảm bảo quyền lợi và các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển mọi mặt của con chung, cần thiết giữ nguyên hiện trạng. Theo đó giao Đỗ Thị Hà L, cháu Đỗ Thị Hà V cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Đỗ Trung K cho anh D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H, anh D về việc không yêu cầu phía bên kia phải cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu mới và quyền được thăm nom con của các bên theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 81; khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về tài sản chung và nợ chung:

chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn D đều xác nhận không có và không đề nghị giải quyết, nên Tòa án không xem xét.

[4] Về án phí:

Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng các Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 266, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ điểm a, khoản 05 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H, cụ thể:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn D.
  2. Về con chung: Giao con chung Đỗ Thị Hà L, sinh ngày 30/7/2012, cháu Đỗ Thị Hà V sinh ngày 10/4/2014 cho chị Trần Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Đỗ Trung K sinh ngày 28/11/2018 cho anh Đỗ Văn D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H, anh D về việc không yêu cầu phía bên kia phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu mới.

    Anh Đỗ Văn D và chị Trần Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn D đều xác nhận không có và không đề nghị giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được đối trừ số tiền dự phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 77074 ngày 27/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Hợp Tiến;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 204/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA HNGĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger