|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/6/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Thưởng.
2. Ông Nguyễn Văn Bút.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990.
- Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1990.
Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Văn T có lời trình bày:
Vào năm 2014, anh và chị Huỳnh Thị Kim L quen biết và làm đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ngày 16/6/2014. Thời gian đầu sống chung tạm hạnh phúc tuy nhiên càng về sau đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp về mọi mặt, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng không thành.
Nay anh T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách giải quyết cho anh được ly hôn với chị L, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 15/9/2017, hiện đang sống chung với anh T, sau khi ly hôn anh T yêu cầu được quyền nuôi người con chung là cháu H và không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Huỳnh Thị Kim L mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lí do nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng
và nội dung giải quyết vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
Chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T được ly hôn với chị L; về con chung, giao cháu Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 15/9/2017, hiện đang sống chung với anh T cho anh T được quyền nuôi dưỡng, ghi nhận anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con; về tài sản chung và nợ chung ghi nhận anh T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng:
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng tự nguyện có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng qui định.
Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
Theo anh T trình bày, anh và chị Huỳnh Thị Kim L quen biết và làm đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ngày 16/6/2014, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Theo nguyên đơn, thời gian đầu sống chung tạm hạnh phúc tuy nhiên càng về sau đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp về mọi mặt, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Phía bị đơn chị L đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham dự phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tuy nhiên chị không đến tham dự.
Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận định nguyên đơn cương quyết ly hôn còn bị đơn dù biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bị đơn đã bỏ mặc cho nguyên đơn tự giải quyết, không cùng nguyên đơn có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân của cả hai để kéo dài mối quan hệ hôn nhân. Như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được vì vậy Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của nguyên đơn vì vậy cần ghi nhận.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 15/9/2017, hiện đang sống chung với anh T, sau khi ly hôn anh T yêu cầu được quyền nuôi người con chung là cháu H và không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử nhận thấy khi vợ chồng ly hôn, việc giao con cho ai nuôi là phải đảm bảo về mọi mặt cho con chung, đối với nguyên đơn sau khi hai vợ chồng sống ly thân nguyên đơn là người trực tiếp nuôi con chung, bị đơn không đến tòa trình bày ý kiến về việc ai nuôi con chung vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, anh T không có yêu cầu cấp dưỡng cho con là do sự tự nguyện của anh cần được ghi nhận.
Về tài sản chung: Anh T trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Anh T trình bày không có trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Lời phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tại phiên tòa về hình thức, nội dung vụ án là phù hợp với việc xem xét, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008825 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung:
- Về tài sản chung:
- Về nợ chung:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Huỳnh Thị Kim L.
Ghi nhận anh Nguyễn Văn T không yêu cầu việc cấp dưỡng giữa vợ, chồng sau khi ly hôn.
Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 15/9/2017, hiện đang sống chung với anh T.
Ghi nhận anh Nguyễn Văn T không yêu cầu chị Huỳnh Thị Kim L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Chị Huỳnh Thị Kim L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ này tuy nhiên khi người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Không có.
Không có.
Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008825 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Bút | Đào Chí Cường |
| Ngô Thị Thưởng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Cường |
Bản án số 204/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 204/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tung - loan
