Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06-03-2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Dương
  2. Bà Mai Thị Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1197/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 1996; hộ khẩu thường trú: Tổ A, V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: số A đường V, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Jin M, sinh năm 1982; hộ khẩu thường trú: số E, Tổ B, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, tạm trú: số A đường V, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 13 tháng 5 năm 2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được, tình cảm vợ chồng ngày càng nguội lạnh, bị đơn nhiều lần chơi bời, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình, bị đơn còn hăm dọa đòi đánh đập nguyên đơn khiến cho nguyên đơn luôn sống trong trạng thái áp lực. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Jin Thành Â, sinh ngày 10 tháng 09 năm 2019 và Jin Tuệ M1, sinh ngày 08 tháng 03 năm 2022. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho mỗi con, việc cấp dưỡng nuôi con bắt đầu thực hiện từ tháng 11 năm 2024 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi; tuy nhiên tại phiên họp ngày 13 tháng 01 năm 2025, nguyên đơn thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, theo đó nguyên đơn tự thỏa thuận với bị đơn về mức cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ý kiến của bị đơn: Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:

  1. Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:

    Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

    Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

    Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên dơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và kết quả xác minh của Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì việc bà Nguyễn Thị Thùy V yêu cầu ly hôn với ông Jin M, ông Jin M có quốc tịch Trung Quốc nhưng cư trú liên tục tại địa chỉ số A đường V, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam từ tháng 12 năm 2023 đến tháng 01 năm 2025 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do; căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 13 tháng 05 năm 2019 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thùy V và ông Jin M là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, bị đơn đã đi khỏi địa phương từ tháng 01 năm 2025 đến nay; Tòa án đã nhiều lần động viên nguyên đơn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn từ chối; bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia hòa giải, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ nguyên đơn và bị đơn không còn tha thiết với việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.

Xét thấy, hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, thống nhất với nhau về suy nghĩ và quan điểm sống, các bên phải quý trọng, chia sẻ, bàn bạc giải quyết các vấn đề chung trong cuộc sống, tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh (bản sao) số 04 ngày 05 tháng 11 năm 2019 và Giấy khai sinh (bản sao) số 02 ngày 15 tháng 04 năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có hai con chung Jin Thành Â, sinh ngày 10 tháng 09 năm 2019 và Jin Tuệ M1, sinh ngày 08 tháng 03 năm 2022.

Xét yêu cầu nuôi con của nguyên đơn:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: nguyên đơn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Jin Thành  và Jin Tuệ M1, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã nhiều lần được triệu tập nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn và người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, trẻ Jin Thành  sinh năm 2019 và trẻ Jin Tuệ M1 sinh năm 2022, là độ tuổi còn rất nhỏ, rất cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ nên việc nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: nguyên đơn yêu cầu được tự thỏa thuận với bị đơn về mức cấp dưỡng nuôi con, xét thấy, đây là ý chí của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

    Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy V được ly hôn với ông Jin M.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang hết hiệu lực pháp luật.

    Về con chung: Giao hai con chung Jin Thành Â, sinh ngày 10 tháng 09 năm 2019 và Jin Tuệ M1, sinh ngày 08 tháng 03 năm 2022 cho bà Nguyễn Thị Thùy V trực tiếp nuôi dưỡng; mức cấp dưỡng nuôi con các đương sự tự thỏa thuận.

    Ông Jin M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.

    Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Thùy V phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0016418 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thùy V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND Tp . Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 204/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger