Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 

Bản án số: 204/2025/DS-PT

Ngày: 26/03/2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Thẩm phán:

Bà Đặng Mai Hoa

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Ông Lê Đức Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2025/TLST-DS ngày 15.01.2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2025/QĐPT-HPTDS ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số B - BN, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Tổng giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh H.

Bị đơn: Ông Trương Minh T1 - sinh năm: 1977;

HKTT: xã T, huyện B, Thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú cuối cùng: P 3648, CT 12C, K, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/6/2027 ông T1 có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ của ngân hàng. Căn cứ vào thu nhập của ông Trương Minh T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 30.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 749.578.217 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán tiền cho Ngân hàng số tiền: 722.581.000 đồng, thứ tự thanh toán (điều 20 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng), ngày 01/12/2020 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (điều 24 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 23/07/2023 ông Trương Minh T1 còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 34.892.202 đồng; Lãi quá hạn: 43.772.400 đồng; Tổng cộng: 78.664.602 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi tư nghìn, sáu trăm linh hai đồng).

* Yêu cầu của nguyên đơn:

  1. Buộc ông Trương Minh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/07/2023 là 78.664.602 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi tư nghìn, sáu trăm linh hai đồng). Trong đó nợ gốc: 34.892.202 đồng; Lãi quá hạn: 43.772.400 đồng.
  2. Ông T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 24/7/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án đã tiến hành xác minh tại công an xã T, huyện B, Thành phố Hà Nội được biết ông T1 không còn sinh sống, làm việc tại địa phương từ năm 2015 đến nay. Qua xác minh tại công an phường Đ được biết ông Trương Minh T1 trước đây có sinh sống tại địa chỉ P, CT A, K, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội nhưng đã chuyển đi nơi khác sinh sống, hiện không biết ông T1 ở đâu. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1) đối với ông Trương Minh T1.

    Buộc ông Trương Minh T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền 88.312.401 đồng (Bằng chữ: T2 mươi tám triệu, ba trăm mười hai nghìn, bốn trăm linh một đồng). Trong đó dư nợ gốc là 34.892.202 đồng (nợ gốc: 29.973.518 đồng, lãi trong hạn và phí 4.918.684 đồng), nợ lãi quá hạn là 53.420.199 đồng.

  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm hợp ông Trương Minh T1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc. Trường hợp hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 25.09.2024, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn kháng toàn bộ bản án sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần S; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn ông Trương Minh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng ông Trương Minh T1 vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt ông Trương Minh T1 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về số tiền nợ gốc: Ngày 01.06.2017 ông Trương Minh T1 có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ của ngân hàng. Căn cứ vào thu nhập của ông Trương Minh T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 30.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Bản án sơ thẩm căn cứ tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của ông T1, số tiền ông T1 đã giao dịch, số tiền ông T1 đã thanh toán thì đến ngày 31/8/2020, xác định số tiền giao dịch mà ông T1 còn nợ là: 29.973.518 đồng là có căn cứ.

[2.2] Về yêu cầu trả nợ lãi: Cấp sơ thẩm căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 5 Thông tư 19/2016, điểm a khoản 3 TT39/2016, trước khi thẻ tín dụng chuyển sang nợ quá hạn thì nợ lãi trong hạn và phí là 4.918.684 đồng. Toàn bộ dư nợ là 34.892.202 đồng (nợ gốc: 29.973.518 đồng, lãi trong hạn và phí 4.918.684 đồng); Căn cứ Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, Điều 21 Thông tư 39/2016, Điều 12 Nghị quyết 01/2019 chỉ chấp nhận 1 phần yêu cầu của Ngân hàng, xác định số nợ quá hạn chỉ tính trên số nợ gốc là 29.973.518 đồng, lãi quá hạn đến ngày 20/9/2024 là: 53.420.199 đồng và phải tiếp tục chịu lãi kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Tổng là 88.312.401 đồng (Bằng chữ: T2 mươi tám triệu, ba trăm mười hai nghìn, bốn trăm linh một đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội về việc xác định lại số tiền, gốc và lãi theo quy định của pháp luật.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
  3. Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã đóng tại biên lai số 0033681 ngày 25.09.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Hoàng Mai;
  • - Chi cục THADS quận Hoàng Mai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Diệp Linh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 204/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger