TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/HS-ST Ngày 27-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Đức.
Ông Võ Văn Định.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 202/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với:
Bị cáo: L.B.K, sinh năm 19.. tại tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: Bản X, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Không cố định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L.H1 và bà L.T.H2; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; có 01 con nuôi sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 21/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, đến ngày 31/7/2019, bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện ma túy huyện Kỳ Sơn; bị bắt quả tang ngày 17/6/2024, tạm giữ từ ngày 17/6/2024, tạm giam từ ngày 26/6/2024; danh chỉ bản số 437, lập ngày 26/6/2024 tại Công an huyện Thanh Trì. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà N.T.L - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội - Chi nhánh số 3. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, tổ công tác Công an thị trấn V, huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực đường N, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội, phát hiện L.B.K đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại túi quần phía trước bên trái của K có 01 gói giấy bên trong là chất bột màu trắng. Tại chỗ, K tự giao nộp và khai nhận chất bột màu trắng bên trong gói giấy là Heroine, K vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của K: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A5 màu trắng đen đã qua sử dụng, Imei 1: 86151604317698, Imei 2: 86151604317680 bên trong có lắp sim số: 0868456402. Xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể của K cho kết quả dương tính với ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của L.B.K. Tại Kết luận giám định số 4618/KL-KTHS ngày 26/6/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,119 gam". Cơ quan giám định đã sử dụng 0,011 gam ma túy Heroine làm mẫu giám định, còn lại 0,108 gam ma túy Heroine hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì.
Tại Cơ quan điều tra, L.B.K khai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, K đi bộ ra đầu ngõ đường N, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội để mua ma túy về để sử dụng. Tại đây, K gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói giấy, trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Mua xong, K giấu gói ma túy trong túi quần phía trước bên trái đang mặc, rồi đi bộ về để tìm nơi sử dụng. Khi K đi đến khu vực đường N, thị trấn V, thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.
Cơ quan điều tra đã dẫn giải K đi xác định địa điểm mua ma túy, K chỉ nơi đã mua ma túy tại đầu ngõ ..., đường N, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho K, do K khai không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A5 màu trắng đen đã qua sử dụng, Imeil: 86151604317698, Imei2: 86151604317680 bên trong có lắp sim số: 0868456402 thu giữ của K, qua điều tra xác định là tài sản cá nhân của K, không sử dụng vào việc phạm tội, nên tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Tại Cáo trạng số 200/CT-VKS-TT ngày 13/9/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố L.B.K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo K khai đã thực hiện hành vi như Cáo trạng truy tố, xin được giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu: Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế, nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị Tòa án áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất, miễn án phí và trả lại điện thoại cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L.B.K mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,119 gam Heroine; trả lại K 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A5 màu trắng đen đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L.B.K không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, tại khu vực đường N, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội, L.B.K có hành vi tàng trữ trái phép 0,119 gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L.B.K thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L.B.K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tiền sự: Ngày 21/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An ra quyết định đưa L.B.K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Đến ngày 31/7/2019, K bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện huyện Kỳ Sơn, từ đó đến nay chưa chấp hành tiếp quyết định.
[6] Về quyết định hình phạt: Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo L.B.K, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, do bị cáo L.B.K không có nghề nghiệp, tài sản, nên Tòa án không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,119 gam Heroine thu giữ của bị cáo L.B.K là vật cấm tàng trữ, nên phải tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A5 màu trắng đen đã qua sử dụng, Imei 1: 86151604317698, Imei 2: 86151604317680 bên trong có lắp sim số: 0868456402, là tài sản của K, không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho K.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo L.B.K là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo L.B.K: K khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan Công an đã tổ chức truy tìm, nhưng không xác định được, nên không có căn cứ xử lý là đúng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo L.B.K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt L.B.K 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với L.B.K.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong, bên trong có 0,119 gam Heroine (trừ 0,011 gam đã thu mẫu giám định), bên ngoài có chữ ký của L.B.K, giám định viên N.H.Q và cán bộ Công an thị trấn V - Đ.X.T.
- - Trả lại cho L.B.K 01 (Một) điện thoại kiểu dáng OPPO A5 màu trắng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số: 0868456402.
Vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/9/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo L.B.K được miễn 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo L.B.K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Nam |
Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 204/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L.B.K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
