|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 204/2024/HS-PT Ngày: 03 – 07 – 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán:
- Ông Ngô Đức Thụ
- Bà Lê Thị Thương Huyền
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 148/2024/HSPT ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn N; Sinh năm 1988, tại tỉnh Vĩnh Long; Đăng ký thường trú: Số B đường G, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị A; Có vợ tên Trương Tường V, sinh năm: 1996 và 01 con, sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có liên quan đến kháng cáo:
- Bà Trần Thị D, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Số F P, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
- Ông Cao Tấn M, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Số C đường số F, tổ A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin vắng mặt.
- Ông Đặng Văn H1, sinh năm: 1960; Nơi cư trú: Số A Quốc lộ B, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm: 1980; Nơi cư trú: Số F Quốc lộ B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin vắng mặt.
- Ông Cao Tấn H2, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Số C đường số F,tổ A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin vắng mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Quyền sử dụng đất có diện tích 2167,2m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 43 tại xã T, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AM 450370 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 08/4/2008, số vào sổ cấp GCN H00852/12, trên thửa đất có 03 ngôi mộ được xây dựng bằng gạch men, có tên trên bia mộ là Nguyễn Văn M1, Phạm Văn H3 và Trần Thị D1. Ngày 19/01/2013, bà Nguyễn Hoàng A1 chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Bùi Văn S với giá 1.400.000.000đ, bà A1 cam kết di dời 03 ngôi mộ trong thời hạn 03 tháng. Ngày 19/6/2013, Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 114293 cho ông S. Trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2018, bà A1 vẫn không thực hiện việc di dời 03 ngôi mộ.
Ngày 05/6/2018, ông S đã bán thửa đất trên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số BP 114293 cho bà Võ Thị Yến N1 với giá 2.450.000.000đ, có diện tích 1.819,8m². Tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 025951/HĐ-CNQSDĐ lập ngày 05/6/2016 tại Văn phòng C, bà N1 yêu cầu ông S xây dựng tường xây bao quanh phần đất có diện tích 347,4m² có 03 ngôi mộ giáp ranh thửa đất của bà N1 mua, bà N1 sẽ công chứng vi bằng phần đất có diện tích 347,4m² có 03 ngôi mộ cho ông S khi ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 04/6/2020, bà N1 ủy quyền cho mẹ ruột tên Trần Thị D tại Hợp đồng ủy quyền có số công chứng 012884, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD toàn quyền quyết định.
Ngày 03/5/2021, bà D có nhu cầu phân lô tách thửa thửa đất trên, bà D ký kết Hợp đồng tư vấn dịch vụ số 01/2021/HĐ-TVDV, dự án khu dân cư nhà ở với Nguyễn Văn N với giá trị hợp đồng là 2.500.000.000đ, thời gian bàn giao hồ sơ dự án phân lô tách thửa là 240 ngày kể từ ngày hai bên ký hợp đồng. Bà D đã đưa tiền tạm ứng 400.000.000đ cho N.
Đến ngày 15/11/2021, bà D tiếp tục đưa tiền tạm ứng 200.000.000đ cho N. Để thực hiện được dự án phải di dời được 03 ngôi mộ trên, N nói với bà D để N thương lượng với thân nhân của 03 ngôi mộ để giải quyết, N điện thoại anh Nguyễn Hoàng L (là anh ruột bà Nguyễn Hoàng A1) thỏa thuận việc di dời 03 ngôi mộ, ông L yêu cầu đưa 3.000.000.000₫ mua thửa đất khác để di dời 03 ngôi mộ trên đến, N nói lại cho bà D biết, bà D nói với N tầm 300.000.000₫ và chi phí di dời, xây mộ mới thì bà lo được, nhiều quá bà không có khả năng.
Khoảng tháng 11/2022 (không nhớ ngày), N điện thoại cho bà D kêu đi xem ngày để bốc 03 ngôi mộ trên vì đã thỏa thuận được ông L. Sau đó, bà D điện thoại nói cho Nhí biết ngày 14/11/2022 tiến hành bốc mộ. Đến ngày 14/11/2022, N điện thoại cho bà D nói không có người làm nên hẹn lại ngày khác. Ngày 18/11/2022, N đang đứng trước thửa đất trên thì gặp ông Cao Tấn M, N hỏi ông M về việc bốc ngôi mộ, Nhí xin số điện thoại và hẹn liên lạc với ông M sau.
Ngày 22/11/2022, N điện thoại cho ông M hỏi chi phí bốc 03 ngôi mộ, ông M nói dịch vụ bốc 03 ngôi mộ là 15.000.000đ, N đồng ý và yêu cầu ông M đúng 05 giờ 00 phút ngày 25/11/2022 tiến hành bốc 03 ngôi mộ nhưng N không nói ông M sẽ di dời 03 hài cốt đi chôn chất ở đâu. Đến ngày 24/11/2022, N điện thoại cho bà D nói ngày 25/11/2022 sẽ bốc 03 ngôi mộ và chi phí dịch vụ bốc 03 ngôi mộ là 20.000.000đ, bà D đồng ý. Đến 05 giờ 00 phút ngày 25/11/2022, N đến thửa đất nêu trên tại ấp G, xã T, huyện C gặp ông M đi cùng ông Đặng Văn H1, ông Nguyễn Văn  và ông Cao Tấn H2 cũng đến nơi và có đem theo 03 cái quách để bỏ hài cốt, có kích thước (40 x 80 x 40) cm, N bảo ông M tiến hành đập phá 03 ngôi mộ trên, ông M nói sao không có ông L là họ hàng 03 ngôi mộ này ra đốt nhang thì N nói ông L còn ngủ, N đã hỏi ý kiến của ông L rồi nên ông M bảo ông H1, ông  và ông H2 tiến hành đập 03 ngôi mộ. Khi đang đập được 01 phần của 03 ngôi mộ thì ông L đến ngăn cản và cầm dao Thái Lan hù dọa đòi đâm nên N bỏ chạy. Lúc này, có ông Nguyễn Hoàng D2 (em ruột của ông L) điều khiển xe đến hiện trường, yêu cầu N mua tấm phủ che 03 ngôi mộ bị đập phá và điện thoại cho lực lượng Công an xã T đến hiện trường và mời tất cả về Công an xã T làm việc. Khoảng 9 giờ 00 phút cùng ngày, N gặp bà D lấy 6.000.000đ, N đưa cho ông M chi phí dịch vụ bốc mộ là 5.000.000đ và đưa thêm 1.000.000đ nói ông M mua tấm phủ che 03 ngôi mộ đã bị đập phá chờ cơ quan chức năng giải quyết.
Đến ngày 14/3/2023, ông Nguyễn Hoàng D2 đến Công an xã T Nguyễn Văn N có hành vi đập phá 03 ngôi mộ là người thân quá cố của ông D2.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-PST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Xâm phạm mồ mả”;
Căn cứ vào Điều 38, Khoản 1 Điều 319, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về giải quyết trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27 tháng 3 năm 2024 bị cáo Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét điều tra lại vụ án, triệu tập nhân chứng đầy đủ.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Văn N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận: Bị cáo được bà D nhờ thương lượng với với chủ của 03 ngôi mộ để di dời đi chỗ khác thì được anh L (một trong những người chủ của 03 ngôi mộ) yêu cầu đưa 03 tỷ đồng để di dời, bị cáo về nói lại cho bà D, bà D nói tầm 300 triệu thì bà lo được, nhiều quá bà không có khả năng. Bị cáo gặp anh L tiếp tục thương lượng để di dời 03 ngôi mộ với số tiền 300 triệu đồng, anh L không đồng ý mà nói để gia đình họp mới đưa ra quyết định. Khi ra thắp nhang cho 03 ngôi mộ thì gặp ông Cao Tấn M là người làm dịch vụ mai táng, bị cáo hỏi thì ông M đồng ý chi phí bốc 03 ngôi mộ là 15 triệu đồng, bị cáo báo cho bà D thời gian và chi phí bốc 03 ngôi mộ là 20 triệu đồng, bà D đồng ý. Sáng sớm ngày 25/11/2022, bị cáo đến thửa đất nói ông M tiến hành đập phá mộ, ông M hỏi sao không có ông L ra đốt nhang, bị cáo nói đã hỏi ý kiến của ông L rồi. Ông M nói các ông H1, Â và H2 tiến hành đập 03 ngôi mộ, thì bị chủ các ngôi mộ ra ngăn cản hăm dọa nên dừng lại.
- Bị cáo thấy mình có tội nhưng chỉ với vai trò giúp sức làm thuê cho bà D và bị cáo có nhân chứng, đề nghị Tòa cho triệu tập người chạy xe Grap chở bị cáo có mặt tại nơi ngày đập phá mộ chứng kiến ông M đồng ý cam kết việc di dời mộ.
Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Xâm phạm mồ mả” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi tiến hành điều tra truy tố xét xử vụ án. Bị cáo kháng cáo yêu cầu điều tra lại vụ án và triệu tập đầy đủ người làm chứng là không có căn cứ. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, qua đó tuyên phạt các bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cũng không bổ sung được tài liệu chứng cứ nào mới để xem xét. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N làm trong hạn luật định, nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn N:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Bà Trần Thị D là chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất số 38, tờ bản đồ số 43, đất tọa lạc tại xã T, huyện C. Để thực hiện tách thửa, bà D nhờ Nguyễn Văn N đứng ra thương thượng với chủ của 03 ngôi mộ trên thửa đất để di dời đi nơi khác. Bị cáo gặp anh L là đại diện gia đình của 03 ngôi mộ để thỏa thuận thì anh L yêu cầu phải đưa 3.000.000.000₫ để mua khu đất khác rồi mới dời 03 ngôi mộ trên đến khu đất mới. Bị cáo thông báo cho bà D thì bà D chỉ đồng ý đưa 300.000.000đ và chi phí di dời, xây mộ mới, nhưng ông L không đồng ý và nói để về thương lượng với gia đình mới quyết định được. Do bà D thúc giục bị cáo phải tiến hành thủ tục tách thửa nên bị cáo nói dối bà D là đã thương lượng được với gia đình anh L xong, ngày 14/11/2022 sẽ tiến hành bốc 03 ngôi mộ. Ngày 18/11/2022, bị cáo đến khu đất có 03 ngôi mộ thắp hương thì gặp ông Cao Tấn M làm nghề dịch vụ mai táng tại địa phương, ông M nói nếu bị cáo có nhu cầu bốc mộ thì ông M xin được bốc, di dời 03 ngôi mộ trên. Đến ngày 22/11/2022, bị cáo hỏi chi phí bốc 03 ngôi mộ, ông M báo giá là 15.000.000đ, bị cáo báo cho bà D nói ngày 25/11/2022 sẽ tiến hành bốc 03 ngôi mộ với chi phí là 20.000.000đ, bà D đồng ý. Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 25/11/2022, bị cáo đến khu đất gặp ông M đi cùng với 03 người đàn ông có mang theo 03 cái quách dùng để đựng hài cốt. Bị cáo nói dối là đã hỏi ý kiến của ông L rồi, kêu ông M thực hiện công việc như đã thỏa thuận. Ông M nói các ông H1,  và H2 tiến hành đập 03 ngôi mộ. Khi ông M, ông H1, ông  và ông H2 đang tiến hành đập phần phía trên 03 ngôi mộ thì anh L chạy ra ngăn cản không cho bốc mộ và báo Công an xã T, đến giải quyết.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Xâm phạm mồ mả”, theo khoản 1 Điều 319 Bộ luật hình sự, là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin xem xét điều tra lại vụ án, triệu tập nhân chứng đầy đủ do cán bộ điều tra làm sai và thiếu sót hồ sơ điều tra, có đe dọa làm oan sai, bỏ lọt tội phạm. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Văn N chưa được sự đồng ý của các chủ sở hữu 03 ngôi mộ, nhưng đã tự ý thuê người đập phá mộ. Bà D là người thuê bị cáo đứng ra dàn xếp với chủ sở hữu của 03 ngôi mộ để thỏa thuận việc bốc mộ, các ông M, H1,  và H2 là những người được bị cáo thuê bốc mộ. Do bị cáo che dấu, nên bà D, ông M, ông H1, ông  và ông H2 không biết việc chủ sở hữu chưa đồng ý cho bốc mộ, nên không có đủ cơ sở để xử lý bà D, ông M, ông H1, ông  và ông H2 với vai trò đồng phạm. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo cho rằng quá trình điều tra vụ án bị đe dọa làm oan sai, bỏ lọt tội phạm, nên yêu cầu điều tra lại vụ án, triệu tập nhân chứng đầy đủ là không có căn cứ. Bị cáo Nguyễn Văn N kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp bổ sung được thêm tài liệu chứng cứ nào mới để xem xét, nên không có cơ sở chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Điều Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn văn N2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Xâm phạm mồ mả”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 319, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
[2] Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |
Bản án số 204/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về xâm phạm mồ mả
- Số bản án: 204/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Xâm phạm mồ mả
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Nhí Xâm phạm mồ mả
