|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24/7/2024
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Long
Ông Nguyễn Đức Kha
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 24/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 97/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/4/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh Đ tại Việt Nam: thôn Đồng Giàng, xã Bình Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Anh Đ hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Lê Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Văn Đ kết hôn với nhau ngày 21/7/2009, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh Đ đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vợ chồng xa cách. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau và không quan tâm gì đến nhau nữa. Đến nay giữa chị và anh Đ đã không còn liên lạc với nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Ngô Văn Đ được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Ngô Thị T, sinh ngày 30/8/2008 và cháu Ngô Thị Hà V, sinh ngày 08/4/2016. Hiện nay các cháu đang ở cùng bà nội Nguyễn Thị C. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu T và cháu V cho anh Ngô Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng và tạm giao cho bà Nguyễn Thị C nuôi dưỡng trong thời gian anh Đ ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Ngô Văn Đ hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Đ đến nay không nhận được thông tin của anh Đ.
* Bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Ngô Văn Đ, anh Đ hiện đang lao động tại nước ngoài. Bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh Đ qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh Đ ở nước ngoài. Bà đã thông báo cho anh Đ về việc chị L đề nghị ly hôn nhưng anh Đ không về nước làm việc được, anh Đ có ý kiến đồng ý ly hôn với chị L và đồng ý nuôi dưỡng cháu T và cháu V. Hiện nay cả cháu T và cháu V đều đang do bà chăm sóc nuôi dưỡng. Khi Tòa án giải quyết việc vụ án, bà đề nghị Tòa án giao cháu T và cháu V cho anh Ngô Văn Đ nuôi dưỡng. Đồng thời bà đồng ý và đề nghị Tòa án tạm giao T và cháu V cho bà chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian anh Ngô Văn Đ làm việc ở nước ngoài. Việc cấp dưỡng nuôi con tùy trách nhiệm của chồng L, Đ.
* Cháu Ngô Thị Hà V trình bày có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố và bà nội. Cháu Ngô Thị T là trẻ khuyết tật từ nhỏ đều sống với ông bà nội, cháu không đi lại được và không nói chuyện được.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị L xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Đ vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn anh Ngô Văn Đ.
Về con chung: Giao cháu Ngô Thị T và cháu Ngô Thị Hà V cho anh Ngô Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị C nuôi dưỡng trong thời gian anh Đ ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Ngô Văn Đ. Bị đơn anh Ngô Văn Đ có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 8990/QLXNC-P3 ngày 03/5/2024 của Cục Q - Bộ C1 thì anh Ngô Văn Đ đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 18/10/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Ngô Văn Đ được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị L và bà C có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị C là mẹ đẻ của anh Đ xác định hiện anh Đ đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh Đ ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Ngô Văn Đ kết hôn với nhau ngày 21/7/2009 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh Đ. Xem xét đơn khởi kiện của chị L, HĐXX thấy: Đến nay chị L và anh Đ đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh Đ hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, chị L xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn với anh Đ.
[4]. Về con chung: Chị L và anh Đ có 02 con chung là cháu Ngô Thị T, sinh ngày 30/8/2008 và cháu Ngô Thị Hà V, sinh ngày 08/4/2016. Hiện nay các cháu đều đang ở cùng bà nội là Nguyễn Thị C; cháu T là trẻ khuyết tật, cháu V có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố và bà nội. Nguyên đơn chị L có ý kiến đồng ý giao con chung cho anh Đ và bà C chăm sóc nuôi dưỡng; bà C đồng ý nuôi dưỡng cháu T và cháu V thay anh Đ trong thời gian anh Đ ở nước ngoài. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu T và cháu V nhưng tạm giao các cháu cho bà C chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Đ ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị L không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn anh Ngô Văn Đ.
-
Về con chung: Giao cháu Ngô Thị T, sinh ngày 30/8/2008 và cháu Ngô Thị Hà V, sinh ngày 08/4/2016 cho anh Ngô Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Ngô Văn Đ về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001164 ngày 22/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
-
Về quyền kháng cáo:
- - Anh Ngô Văn Đ hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Lê Thị L và bà Nguyễn Thị C cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 204/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 204/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương ly hôn Đạt
