|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 204/2024/DS-PT Ngày: 08-5-2024 “V/v Tranh chấp thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
Các thẩm phán:
- Ông Trần Thanh Tòng;
- Ông Phạm Văn Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Châu; Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2024/TLPT- DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 164/2023/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tị xã T, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXX-PT ngày 29 tháng 03 năm 2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị B, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị B: Anh Nguyễn Hoàng L; Sinh năm 1985; Địa chỉ: Số F, đường S - K, Tổ B, ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà B: Ông Nguyễn Duy H; Sinh năm 1965; Luật sư thuộc Văn phòng Luật Sư Nguyễn Duy H; Địa chỉ: Số D, C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; Đoàn Luật sư tỉnh T; vắng mặt.
Bị đơn: Ông Trương Công D; Sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Trương Công D: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N; Sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N2; Địa chỉ: Số B, L, quận B, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T; Chức danh: Tổng giám đốc; Vắng mặt.
Người đại diện ủy quyền.:
- 1.1 Ông Lại Văn P; Chức danh: Giám đốc A1 - Chi nhánh K; Địa chỉ: K, Quốc lộ B, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt.
- 1.2. Ông Lê Thành D1; Chức danh: Giám đốc A1 - Chi nhánh thị xã K, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt.
- Ông Trương Tấn P1; Sinh năm 1955; Địa chỉ: Ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt.
- Ông Trương Minh C, sinh năm 1964; Vắng mặt.
- Ông Trương Thanh H1, sinh năm 1968; Vắng mặt.
- Anh Trương Văn A, sinh năm 1990; Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1990; Vắng mặt.
- Anh Trương Minh T2, sinh năm 1996; Vắng mặt.
- Bà Trần Thị M, sinh năm 1967; Vắng mặt.
- Chị Trương Thị O, sinh năm 1987; Vắng mặt.
- Anh Trần Minh L1, sinh năm 1987; Vắng mặt.
- Bà Lê Thị Kim H2, sinh năm 1977; Vắng mặt.
- Anh Trương Tấn Đ, sinh năm 1999; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1965; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của chị Trương Thị O, anh Trần Minh L1, chị Nguyễn Thị Bích T1, anh Trương Văn A: Ông Trương Minh C, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện và những lời trình bày tiếp theo trong quá trình tố tụng, bà Trương Thị B và anh Nguyễn Hoàng L trình bày có nội dung thống nhất:
Cụ Trương Văn T3 (chết năm 1981), cụ Võ Thị N1 (chết năm 2017) có 05 người con chung tên: Trương Tấn P1, Trương Minh C, Trương Thanh H1, Trương Thị B và Trương Công D; Các cụ không có con nuôi, không có con riêng, các cụ chết không có di chúc. Tài sản các cụ để lại quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) đang tranh chấp; Địa chỉ: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Cùng Tờ bản đồ (viết tắt TBĐ) số 13; Gồm: Diện tích (viết tắt DT) 846,6m², các thửa số 773, 774 + DT 2.868,8m², các thửa số 278 và 279 + DT 3.077,4m², các thửa số 777, 778, 775 + DT 10.166,7m², các thửa số 198, 199, 214, 155, 156, 157, 158, 200 +
DT 2.413,1m², các thửa số 277 và 293 và 292 + DT 3.946,5m², các thửa số 804, 805, 806, 864, 865.
Nguồn gốc đất tranh chấp của ông bà chết để lại cho các cụ; Sau khi các cụ chết, các ông C, H1, D quản lý, sử dụng.
Nay bà Trương Thị B yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ đẻ chết để lại theo quy định của pháp luật; Bà yêu cầu chia di sản cho 05 người con thừa kế. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt HĐCNQSDĐ) giữa ông D, bà H2 với anh A và chị T1 đối với DT 747m² thửa 804; Yêu cầu Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (viết tắt HĐTCQSDĐ) giữa ông D, bà H2 và anh T2 với DT 952m² đất thửa 805.
Bà B rút yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với các phần đất như sau: DT 4.895m² đất các thửa số 51, 61, 83 + DT 4.365,3m² đất các thửa số 107, 122 + DT 1.339,3m² đất các thửa số 139, 161 + DT 1.612,8m² đất các thửa số 138, 163; Tại Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: Ông Trương Công D và chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày có nội dung thống nhất:
- + Xác định đúng huyết thống và hàng thừa kế.
- + Ông D thừa nhận QSDĐ có DT 2.868,8m² đất các thửa số 278, 279 là di sản thừa kế của cha mẹ đẻ các ông bà chết để lại; Đề nghị chia di sản thừa kế thành 06 phần, ông D được hưởng 02 phần, do công sức gìn giữ, cải tạo đất. Tất cả tài sản khác bà B tranh chấp, không phải di sản thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trương Tấn P1 trình bày: Thống nhất ý kiến của bà B; Đề nghị chia di sản thừa kế đất của cha mẹ đẻ chết để lại, chia cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.
- Ông Trương Minh C trình bày: Thống nhất hàng thừa kế. Ông xác định di sản thừa kế có DT 2.868,8m², đất các thửa số 278, 279; Ông yêu cầu chia di sản theo quy định của pháp luật; Ông không nhận phần thừa kế nếu được chia và cho ông D hưởng. Đối với QSDĐ ông đã kê khai, đăng ký và những tài sản khác không phải di sản. Ngoài ra, ông không chấp nhận yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ giữa ông D, bà H2 và anh A, chị T1 với DT 747m² đất thửa số 804; Ông không chấp nhận chia QSDĐ do chị O, anh L1 đang quản lý, sử dụng.
- Ông Trương Thanh H1 trình bày: Thống nhất hàng thừa kế. Ông xác định di sản thừa kế có DT 2.868,8m², đất các thửa số 278, 279; Ông yêu cầu chia di sản theo quy định của pháp luật; Ông không nhận phần thừa kế, nếu được chia giao cho ông D được hưởng. Đối với QSDĐ do bà L2 (vợ ông H1) kê khai, đăng ký và những tài sản khác không phải di sản.
- Bà Trần Thị M trình bày: QSDĐ do bà và ông C kê khai, đăng ký là tài sản chung của ông bà nên không đồng ý khởi kiện của bà B.
- Anh Trương Minh T2 trình bày: Cha anh tên Trương Công D và bà Lê Thị Kim H2; anh được Cha mẹ đẻ tặng cho DT 952m² đất thửa số 805; Anh đang quản lý, sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ); Anh không đồng ý hủy HĐTCQSDĐ.
- Bà Lê Thị Kim H2 trình bày: Chồng bà tên Trương Công D đã ly hôn. Khi cụ N1 còn sống, tặng cho đất ông D. Khi ly hôn, ông bà tự phân chia tài sản chung, ông D được quyền sử dụng DT 485,7m² đấ thửa số 806 và DT 611m² đất thửa số 864; anh Trương Minh T2 (con) được quyền sử dụng DT 952m² đất thửa số 805; anh Trương Tấn Đ (con) được quyền sử dụng DT 1.150,8m² đất thửa số 865. Riêng anh Đ chưa đủ tuổi, bà đứng tên cho anh Đ. Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà B;
- Anh Trương Tấn Đ trình bày: Cha mẹ anh tên Trương Công D và Lê Thị Kim H2; Tặng cho anh DT 1.150,8m² đất thửa số 865; Mẹ con anh đang quản lý, sử dụng, chưa làm thủ tục sang tên cho anh và anh không đồng ý yêu cầu chia tài sản thừa kế.
- Bà Nguyễn Thị L2 trình bày: Chồng bà tên Trương Thanh H1. Bà có kê khai, đăng ký DT 11.290m² đất; Được cấp GCNQSDĐ ngày 15-11-1994; đất này là tài sản chung của ông bà; Nên không đồng ý chia di sản thừa kế.
-
Ngân hàng N2 – Chi nhánh Khu công nghiệp T; Ông Lại Văn P lời trình bày:
Ngày 06-5-2022, Ngân hàng cho bà Lê Thị Kim H2 và ông Trương Công D vay số tiền 300.000.000 đồng, có Hợp đồng tín dụng số 5701-LAV-202200458, bảo đảm QSDĐ thửa số 865 có DT 1.150,8m². Ngân hàng không tranh chấp hợp đồng tín dụn trong vụ án này. Nếu bà H2, ông D không trả nợ đúng hạn, Ngân hàng sẽ khởi kiện.
- Ngân hàng N2 – Chi nhánh thị xã K: Ông Lê Thành D1 trình bày: Đến ngày 20-10-2023, bà Nguyễn Thị L2 và ông Trương Thanh H1 còn nợ Ngân hàng số tiền 50.000.000 đồng; Ngân hàng không tranh chấp trong vụ án này.
Bản án sơ thẩm số 164/2023/DS-ST ngày 30-11-2023 của Toà án nhân thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Quyết định:
Căn cứ vào các Điều 500, 501, 502, 503, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 167, 168, 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 12, 14, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiệnTranh chấp về thừa kế tài sản của bà Trương Thị B đối với ông Trương Công D. Chia di sản thừa kế của cụ Trương Văn T3 và cụ Võ Thị N1 chết để lại như sau:
- Buộc ông Trương Công D có nghĩa vụ giao cho ông Trương Tấn P1 được quyền sử dụng diện tích đất 1.429,4m², thửa 278, tờ bản đồ số 13 (BĐ 2005), loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác (BHK), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Đất có tứ cận: Đông giáp đất chia cho bà Trương Thị B, dài 45,12m; tây giáp thửa 277, dài 20,51m + thửa 293, dài 14,41m; nam giáp thửa 308, dài 3,85m + 4,40m + thửa 309, dài 28,21m; bắc giáp thửa 230, dài 4,55m + 7,09m + 26,53m. (Có sơ đồ kèm theo).
- Buộc ông Trương Công D có nghĩa vụ giao cho bà Trương Thị B được quyền sử dụng diện tích đất 1.439,4m², thửa 279, tờ bản đồ số 13 (BĐ 2005), loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác (BHK), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Đất có tứ cận: Đông giáp thửa 261, dài 22,11m + 23,19m; tây giáp đất chia cho ông P1, dài 45,12m; nam giáp thửa 309, dài 7,74m + thửa 310, dài 23,69m; bắc giáp thửa 230, dài 32,91m. (Có sơ đồ kèm theo).
- Bà Trương Thị B có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Trương Công D số tiền: 173.128.000 (Một trăm bảy mươi ba triệu một trăm hai mươi tám nghìn) đồng
- Ông P1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Dân số tiền: 171.128.000 (Một trăm bảy mươi mốt triệu một trăm hai mươi tám nghìn) đồng.
2. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09957, Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho cụ Võ Thị N1 đứng tên ngày 21/4/2014, đối với diện tích đất 2.868,8m2, gồm thửa 278 và thửa 279 để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà B thửa 279, cấp cho ông P1 thửa 278 theo nội dung bản án đã tuyên.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị B tranh chấp di sản thừa kế đối với ông Trương Công D, đối với các phần đất tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh như sau:
- - Phần đất thứ nhất: Diện tích 846,6m2, gồm các thửa 773, 774, tờ bản đồ 13 (BĐ 2005);
- - Phần đất thứ hai: Diện tích 3.077,4m2, gồm các thửa 777, 778, 775, tờ bản đồ 13 (BĐ 2005);
- - Phần thứ ba: Diện tích 10.166,7m², gồm các thửa 198, 199, 214, 155, 156, 157, 158, 200, tờ bản đồ 13 (BĐ 2005). Tương ứng các thửa 256, 257, 258, 259, 262, 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254 tờ bản đồ số 04 (BĐ 299).
- - Phần thứ tư: Diện tích 2.413,1m², gồm các thửa 277, 293, 292, tờ bản đồ 13 (BĐ 2005);
- - Phần thứ năm: Diện tích 3.946,5m2, gồm các thửa 804, 805, 806, 864, 865, tờ bản đồ 13 (BĐ 2005).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trương Thị B đối với ông Trương Công D, về việc yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/4/2016, giữa ông Trương Công D, bà Lê Thị Kim H2 và anh Trương Minh T2, đối với diện tích 952m², thửa 805, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/4/2016, giữa ông Trương Công D, bà Lê Thị Kim H2 và anh Trương Văn A, chị Nguyễn Thị Bích T1 đối với diện tích 747m² thửa 804, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
5. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị B “Tranh chấp về thừa kế tài sản” đối với ông Trương Công D, đối với diện tích 13.873,3m², gồm các thửa 51, 61, 83, 107, 122, 139, 164, 138, 163, tờ bản đồ số 02 (BĐ 2005), tương ứng các thửa 57, 58, 59, 60, 61, 62, 1146, 1147, 1148, 1149, tờ bản đồ số 3 (BĐ 299), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Bản án đã quyết định chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Cùng ngày 04-12-2023, ông Trương Tấn P1 và bà Trương Thị B có đơn kháng cáo, cùng nội dung yêu cầu Toà án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chia thừa kế DT 23319,1m² đất cho mỗi người hưởng 1 phần, ông và bà được nhận đất.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
- - Về nội dung: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trương Thị B, ông Trương Tấn P1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm số 164/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của TAND thị xã Trảng Bàng về xác định di sản, chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét kháng cáo của bà Trương Thị B, ông Trương Tấn P1:
[1.1] Cụ Trương Văn T3 và cụ Võ Thị N1 chết không để lại di chúc; Các con chung của 2 cụ gồm: Trương Tấn P1, Trương Minh C, Trương Thanh H1, Trương Thị B và Trương Công D; Tài sản các bên tranh chấp có nguồn gốc của ông bà chết để lại cho 2 cụ là QSDĐ có địa chỉ: Khu phố L, phường L, thị xã T; Cùng TBĐ số 13; Gồm có:
- + Đất có DT 846,6m², các thửa số 773, 774;
- + Đất có DT 2.868,8m², các thửa số 278 và 279;
- + Đất có DT 10.166,7m2, gồm các thửa số 198, 199, 214, 155, 156,157, 158, 200 (sang Bản đồ 299 thuộc các thửa số 256, 257, 258, 259, 262, TBĐ số 4); Được UBND thị xã Trảng Bàng cấp GCNQSDĐ vào ngày 15-11-1994 cho bà Nguyễn Thị L2; gồm các thửa số 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254; thuộc TBĐ số 04; UBND thị xã T cấp GCNQSDĐ ngày 15-11-1994 thuộc 1 phần DT 21.200m² đất cho ông Trương Minh C;
- + Đất có DT 2.413, 1m², các thửa số 277, 293, 292; hiện nay ông Trương Minh C được UBND thị xã T cấp GCNQSDĐ vào ngày 15-11-1994 thuộc 1 phần DT 21.200 m² đất;
- + Đất có DT 3.077,4m² thuộc các thửa số 777, 778, 775;
- + Đất có DT 3.946,5m² các thửa số 804, 805, 806, 864, 865.
- + Đất có DT 846,6m², các thửa số 773, 774; Các thửa số 773, 774 được tách từ thửa số 773; Thửa số 773 được hình thành từ hợp các thửa số 259, 276; Các thửa số 259, 276 được chuyển bản đồ lưới là 1 phần DT 21.200m² đất ông Trương Minh C được UBND thị xã T cấp GCNQSDĐ ngày 15-11-1994.
- + Đất có DT 10.166,7m², gồm các thửa số 198, 199, 214, 155, 156,157, 158, 200; đối chiếu bản đồ 299 gồm các thửa số 256, 257, 258, 259, 262 thuộc TBĐ số 04, do UBND xã T cấp GCNQSDĐ ngày 15-11-1994 cho bà Nguyễn Thị L2;
- + Các thửa đất số 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254; Cùng TBĐ số 04, ông Trương Minh C được UBND thị xã T cấp GCNQSDĐ ngày 15-11-1994 thuộc 1 phần của DT 21.200m²;
- + Đất có DT 2.413, 1m², gồm các thửa số 277, 293, 292; Ông Trương Minh C được UBND thị xã T cấp GCNQSDĐ ngày 15-11-1994 thuộc 1 phần của DT21.200 m² đất
- + Đất có DT 2.868,8m², các thửa số 278, 279; cụ N1 được UBND thị xã T cấp ngày 21-4-2014; Các đương sự thống nhất di sản của cụ T3 và cụ N1 chết để lại chưa chia, Toà án sơ thẩm đã chia di sản này; Mỗi đồng thừa kế được hưởng DT 573,76m² đất tương ứng giá trị thành tiền 114.752.000 đồng là đúng pháp luật; Các ông Trương Thanh H1, Trương Minh C, Trương Công D không kháng cáo.
- + Đối với Đất có DT 3.077,4m² gồm các thửa số 777, 778, 775 và DT 3.946,5m² gồm các thửa số 804, 805, 806, 864, 865, thấy rằng: Ngày 15-11-1994, cụ Võ Thị N1 được cấp GCNQSDĐ với DT 10.120m², gồm các thửa số 57, 58, 59, 60, 61, 62, 1148, 1149, 260, 345, 346, 500, 501. Tại trang số 4 của GCNQSDĐ thể hiện có bán các thửa đất số 57, 58, 59, 60, 61, 62, 1148, 1149; Nên đất còn lại DT 10.120m². Đến ngày 26-9-2013, các thửa số 260, 345, 346, 500, 501 tổng DT 10.120m² được chuyển đổi sang Bản đồ lưới thành các thửa số 335, 323, 308, 229, 245, 260 có tổng DT 7.023,9 m² (giảm 3.096,1m² là do đăng lý sai DT); Thửa số 775/577,4m² được tách từ thửa số 260, nên thửa số 260 còn lại DT
497,9m²; Các thửa số 229, 245, 260 (còn lại) hợp thành thửa số 777; Thửa đất số 778 được tách từ thửa số 777. Các thửa đất số 804, 805, 806 được tách từ các thửa số 323, 308. Các Thửa số 864, 865 được tách từ thửa số 335. Tại Văn Bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 20-12-2013 (được công chứng) giữa cụ N1 và các ông C, H1, D đã xác nhận cụ N1 và các ông thuộc những người thừa kế theo pháp luật của cụ T3; Ngoài ra không còn ai khác; Đồng thời văn bản thể hiện nội dung: “Tài sản mà ông để lại trong tài sản chung của ông và bà Võ Thị N1 là QSDĐ có tổng DT 7.023,9m² được cấp giấy ngày 15-11-1994”. Như vậy, cụ N1 được hưởng trọn quyền thừa kế là không đúng và bỏ sót người thừa kế là bà Trương Thị B và ông Trương Tấn P1 (con chung 2 cụ) được hưởng trong khối ½ di sản của cụ T3. Đến ngày 20-12-2013, cụ N1 tiếp tục lập hợp đồng tặng cho thửa đất số 775 cho vợ chồng ông C (đang quản lý), tặng cho các thửa đất số 335, 323, 308, 229, 245, 260 tổng DT 6.446,5m² cho vợ chồng ông D; Sau đó, ông D bán cho các con tên O các thửa số 777, 778; Tên An đất thửa số 804; Tên T2 thửa số 805; Tên Đ thửa số 865. Ông D còn lại các thửa đất số 806, 864 đang quản lý, sử dụng. Như vậy, Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa cụ N1 với các ông C và ông D chỉ có hiệu lực đối với ½ của DT 3.511,95/7.023,9m² đất của cụ N1; Nhưng cụ N1 và các ông C, H1, D tự định đoạt ½ di sản của cụ T3 có DT 3.511,95m²/7.023,9m² là không đúng pháp luật; Nhưng Toà án sơ thẩm công nhận hợp đồng tặng cho này có hiệu lực toàn bộ là không đúng. Như vậy, còn lại ½ DT 3.511,95m² của cụ T3 phải được chia theo pháp luật cho 06 đồng thừa kế gồm: Cụ N1 và các con tên P1, C, H1, B, D: DT 3.511,95m² : 6 = 585,325m², có xem xét 1 phần công sức quản lý di sản cho ông D; các đồng thừa kế mỗi người được hưởng DT 585,325m² đất tương ứng giá trị thành tiền 360.426.041 đồng (DT 3.511,95m² = 2.325.112.500 đồng : 6 phần); Tuy nhiên, phần di sản các ông C và D được hương đã được quản lý, sử dụng, ông D sang nhượng cho các con; Riêng ông P1 và bà B chưa được hưởng. Tại phiên toà phúc thẩm; Các ông D, C, H1 có Đơn xin xét xử vắng mặt, nên Toà án phúc thẩm không ghi nhận được ý kiến của các ông về phần được hưởng di sản đối với phần đất này. Tuy nhiên tại cấp sơ thẩm, các ông C, D và H1 có ý kiến thống nhất, nếu được chia di sản đối với các thửa đất số 278 và 279, các ông sẽ cho ông Trương Công D được sở hữu phần của mình được hưởng; Nên Toà án cấp phúc thẩm sẽ giao phần di sản của các ông được hưởng có DT 585,325m² tương ứng giá trị 360.426.041 đồng cho ông D.
[1.2] Như vậy, ông P1 và bà B; Mỗi người được hưởng tổng giá trị di sản thành tiền 475.178.041 đồng tương ứng DT 1.157,085m² đất (585,325m² + 573,76m²). Ông Trương Công D được hưởng 3 phần di sản tổng giá trị 1.425.534.123 đồng. Hiện nay, di sản còn lại Thửa đất trống 278 và 279, Toà án sơ thẩm giao cho ông P1 thửa số 278 có DT 1.429,4m² (giá trị 285.880.000 đồng) và giao cho bà B thửa số 278 (giá trị 287.880.000 đồng) là phù hợp. Do ông D và ông C nhận
đất nhiều hơn và phần di sản này các ông C, D đã sử dụng và sang nhượng cho các con xong. có nghĩa vụ thanh toán giá trị bằng tiền, thanh toán cho ông P1 số tiền 189.298.041 đồng (475.178.041 – 285.880.000 đồng); Thanh toán cho bà B số tiền 169.298.041 đồng (475.178.041 – 287.880.000 đồng);
[1.3] Còn lại những thửa đất bà B, ông P1 tranh chấp với các đồng thừa kế, cho rằng là di sản, nhưng không chứng minh được thuộc sở hữu chung của cụ T3 và cụ N1; Toà án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B có căn cứ.
[2] Chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- [2.1] Bà B phải chịu số tiền 1.600.000 (một triệu, sáu trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà B đã nộp.
- [2.2] Ông D có nghĩa vụ hoàn trả cho bà B số tiền 4.800.000 (bốn triệu, tám trăm nghìn) đồng;
- [2.3] Ông P1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà B số tiền 1.600.000 (một triệu, sáu trăm nghìn) đồng.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- [3.1] Ông P1 thuộc trường hợp “Người cao tuổi”, không phải chịu.
- [3.2] Bà Trương Thị B phải chịu số tiền 23.007.121 đồng (giá trị tài sản được chia 475.178.041 đồng; 20.000.000 đồng + 4% của 75.178.041 đồng);
- [3.3] Ông Trương Công D được chia di sản tổng giá trị 1.425.534.123 đồng, phải chịu số tiền 54.766.023 đồng (1.425.534.123 đồng; 36.000.000 đồng x 3% của 625.534.123 đồng).
[4] Án phí phúc thẩm: Ông P1, bà B không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bà Trương Thị B và ông Trương Tấn P1;
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 164/2023/DS-ST, ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh;
Căn cứ vào các Điều 612, 613, 623, 649, 652 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, 167, 168, 188 của Luật Đất đai; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 12, 14, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện: “Về việc Tranh chấp thừa kế tài sản“ của bà Trương Thị B đối với ông Trương Công D.
-
Chia di sản thừa kế diện tích 1.429,4m², đất thửa số 278 và diện tích 1.439,4m², đất thửa số 279, cùng Tờ bản đồ số 13 (BĐ 2005); Cùng địa chỉ: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Tây Tây Ninh cấp ngày 21-4-2014 cho cụ Võ Thị N1.
- Ông Trương Tấn P1 được quyền sở hữu diện tích 1.429,4m², đất thửa số 278, Tờ bản đồ số 13 (BĐ 2005); Tại: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09957, do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 21-4-2014 cho cụ Võ Thị N1 đứng tên với diện tích 2.868,8m². Tứ cận: Đông giáp đất chia cho bà Trương Thị B (dài 45,12 mét); Tây giáp thửa 277 (dài 20,51mét + thửa số 293, dài 14,41mét); Nam giáp thửa số 308 (dài 3,85mét+ 4,40mét + thửa số 309, dài 28,21mét); Bắc giáp thửa 230 (dài 4,55mét + 7,09mét + 26,53mét); Kèm theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Bà Trương Thị B được quyền sở hữu diện tích 1.439,4m², đất thửa số 279, Tờ bản đồ số 13 (BĐ 2005); Tại: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09957, do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 21-4-2014 cho cụ Võ Thị N1 đứng với diện tích 2.868,8m²; Tứ cận: Đông giáp thửa 261(dài 22,11mét + 23,19mét); Tây giáp đất chia cho ông P1 (dài 45,12mét); Nam giáp thửa số 309 (dài 7,74mét+ thửa số 310 dài 23,69mét); Bắc giáp thửa 230 (dài 32,91mét); Kèm theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Các đương sự có nghĩa vụ đến Cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án dân sự phúc thẩm.
- Ông Trương Công D có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trương Tấn P1 số tiền 189.298.041 (một trăm, tám mươi chín triệu, hai trăm, chín mươi tám ngàn, không trăm, bốn mươi mốt) đồng; Thanh toán cho bà B số tiền 169.298.041 (một trăm, sáu mươi chín triệu, hai trăm, chín mươi tám ngàn, không trăm, bốn mươi mốt) đồng;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị B “Về việc Tranh chấp di sản thừa kế“ với ông Trương Công D; Các phần đất tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; gồm: Diện tích 846,6m², các thửa số 773, 774 thuộc Tờ bản đồ 13 (BĐ 2005) + Diện tích 3.077,4m², các thửa số 777, 778, 775 thuộc Tờ bản đồ 13 (BĐ 2005) + Diện tích 10.166,7m², các thửa số 198, 199, 214, 155, 156, 157, 158, 200 tương ứng các thửa số 256, 257, 258, 259, 262, 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254 thuộc Tờ bản đồ số 04 (BĐ 299) + Diện tích 2.413,1m², các thửa số 277, 293, 292 thuộc Tờ bản đồ 13 (BĐ 2005) + Diện tích 3.946,5m² các thửa số 804, 805, 806, 864, 865 thuộc Tờ bản đồ 13 (BĐ 2005).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trương Thị B đối với ông Trương Công D“Về việc Tranh chấp yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29-4-2016; Giữa ông Trương Công D, bà Lê Thị Kim H2 và anh Trương Minh T2, đối với diện tích 952m², đất thửa số 805, Tờ bản đồ số 13; Tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29-4-2016, giữa ông Trương Công D và bà Lê Thị Kim H2 và anh Trương Văn A, chị Nguyễn Thị Bích T1 đối với diện tích 747m² đất thửa số 804, Tờ bản đồ số 13; Tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị B “Về việc Tranh chấp thừa kế tài sản” đối với ông Trương Công D; Diện tích 13.873,3m², các thửa số 51, 61, 83, 107, 122, 139, 164, 138, 163, thuộc Tờ bản đồ số 02 (BĐ 2005), tương ứng các thửa số 57, 58, 59, 60, 61, 62, 1146, 1147, 1148, 1149 thuộc Tờ bản đồ số 3 (BĐ 299); Đất tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trương Tấn P1 được miễn;
- Bà Trương Thị B phải chịu số tiền 23.007.121 (hai mươi ba triệu, không trăm, lẽ bảy ngàn, một trăm, hai mươi mốt) đồng; Căn cứ các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018081 ngày 07-5-2020; Số 0014756 ngày 27-10-2020; Số 0026706 ngày 12-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà B đã nộp 8.100.000 (tám triệu, một trăm ngàn) đồng. Bà B phải nộp tiếp số tiền 14.907.121 (mười bốn triệu, chin trăm, lẽ bảy ngàn, một trăm, hai mươi mốt) đồng.
- Ông Trương Công D phải chịu số tiền 54.766.023 (năm mươi bốn triệu, bảy trăm, sáu mươi sáu ngàn, không trăm, hai mươi ba) đồng;
-
Chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- Bà Trương Thị B phải chịu số tiền 1.600.000 (một triệu, sáu trăm ngàn) đồng. Ghi nhận bà B đã nộp.
- Ông Trương Công D có nghĩa vụ hoàn trả cho bà B số tiền 4.800.000 (bốn triệu, tám trăm ngàn) đồng;
- Ông Trương Tấn P1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà B số tiền 1.600.000 (một triệu, sáu trăm ngàn) đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị B, ông Trương Tấn P1 không phải chịu. Hoàn trả cho bà B số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, căn cứ Biên lai thu tạm ứng số 0015101 ngày 04-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh;
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự; Người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; Căn cứ các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện căn cứ Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Ninh. n gặp bành B1, huyện H, tỉnh Tây Ninh. n gặp bành B1, huyện H, Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Minh Châu |
Bản án số 204/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 204/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Bé yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ đẻ chết để lại theo quy định của pháp luật; Bà yêu cầu chia di sản cho 05 người con thừa kế. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt HĐCNQSDĐ) giữa ông Dân, bà Hồng với anh An và chị Thùy đối với DT 747m2 thửa 804; Yêu cầu Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (viết tắt HĐTCQSDĐ) giữa ông Dân, bà Hồng và anh Tâm với DT 952m2 đất thửa 805.
