|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 203/2023/DS-PT Ngày 27-12-2023 V/v: “Tranh chấp chia thừa kế” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Hương Giang và ông Nguyễn Việt Hùng;
Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 20/12/2023 và 27/12/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khaivụ án dân sự thụ lý số: 183/2023/TLPT-DS ngày 12/10/2023, về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế” do Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DSST ngày 04/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 183/2023/QĐ-PT ngày 26/10/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2023/QĐ-PT ngày 05/12/2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 118/2023/QĐ-PT ngày 20/12/2023 giữa các đương sự:
Đồng nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956 (xin vắng mặt);
Nơi cư trú: xóm C, thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
-Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958 (có mặt);
Nơi cư trú: xóm C, thôn X, xã X, huyện H, Bắc Giang
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Đ: Luật sư Ngọ Thị H1 - Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1963 (có mặt);
Nơi cư trú: xóm Đ, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị P: Luật sư Phạm Xuân A - Văn phòng Luật sư Phạm Xuân A, Đoàn Luật sự tỉnh Bắc Giang (có mặt)
Địa chỉ: số B, thôn Ồ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967(có mặt);
Nơi cư trú: xóm Đ, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971 (có mặt);
Nơi cư trú: xóm C, thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang
-Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1974 (vắng mặt);
Nơi cư trú: xóm C, thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1959 (có mặt);
Nơi cư trú: xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang
- Ông Nguyễn Bá H2, sinh năm 1977 (xin vắng mặt);
Nơi cư trú: xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 (có mặt);
- Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1979 (xin vắng mặt);
Đều cư trú: xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang
- UBND huyện H, tỉnh Bắc Giang do ông Vũ Quang T2 - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H, tỉnh Bắc Giang đại diện theo ủy quyền (vắng mặt);
-UBND xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang do ông Ngô Xuân T3 - Chủ tịch UBND xã đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị B; Bị đơn - ông Nguyễn Bá L;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số số 75/2023/DSST ngày 04/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, thì nội dung vụ án như sau:
Các đồng nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị N trình bày: các bà là con gái của cụ Nguyễn Bá D1, sinh năm 1933 và cụ Nguyễn Thị P1, sinh năm 1933. Cụ P1 chết năm 2015, cụ D1 chết năm 2021.
Quá trình sinh sống, cụ P1 và cụ D1 sinh được 8 người con gồm: bà H, bà Đ, bà P, bà N, bà B, bà D, ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1959 và ông Nguyễn Bá H2, sinh năm 1977. Ngoài ra cụ P1, cụ D1 không có con nuôi, con riêng nào khác.
Quá trình chung sống, cụ P1 và cụ D1 tạo dựng được mảnh đất hiện nay ông H2 đang ở và đã chuyển sang tên ông H2 và phần đất mà ông L đang ở cũng là của các cụ mua cho và hiện nay đã mang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) tên ông L. Ngoài ra cụ P1 và cụ D1 có mua được 02 ao có diện tích 672m² của cụ Lê Văn  từ năm 1960 (hiện cụ  đã chết). Năm 2011, cụ D1 cho ông L lấp 01 ao và ông H2 lấp 1 ao để làm vườn. Hiện ông H2 đang quản lý mảnh vườn 324,5m² tại thửa số 76, ông L đang quản lý mảnh vườn 366,8m² tại thửa số 77, đều thuộc tờ bản đồ số 56. Trước khi cụ D1 chết, cụ D1 có viết di chúc
ngày 23/4/2018 để lại 02 ao này cho 6 người con gái gồm bà P, bà H, bà Đ, bà N, bà B, bà D. Nội dung chữ viết trong giấy để lại 2 ao ngày 23/4/2018 là do cụ D1 viết và ký.
Sau khi cụ D1 chết khoảng 50 ngày, gia đình đã họp tại nhà ông L, có mặt đầy đủ 8 anh chị em. Ngoài ra còn có ông Nguyễn Bá G, khoảng 70 tuổi và ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1977, đều ở xóm T, thôn X, xã X, huyện H chứng kiến. Khi họp, ông G đọc di chúc của cụ D1, mọi người đều nhất trí, chỉ ông L không đồng ý trả đất. Cuộc họp gia đình chỉ nói bằng miệng, không lập biên bản.
Nay các đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của bố mẹ để lại đối với diện tích 672m² tại thửa số 76, 77, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang hiện ông H2 đang quản lý mảnh vườn 324,5m² thửa số 76, ông L đang quản lý mảnh vườn 366,8m² tại thửa số 77 và yêu cầu chia bằng hiện vật làm 6 phần cho bà P, bà H, bà Đ, bà N, bà B, bà D theo di chúc của cụ D1 để lại ngày 23/4/2018 mỗi người được hưởng 112m². Các đồng nguyên đơn đều xác định không có công sức đóng góp và tu tạo gì trên 02 mảnh ao trên và không yêu cầu xem xét tiền mai táng phí của cụ P1 và cụ D1.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/02/2023, bà H tự nguyện xin rút yêu cầu khởi kiện chia di sản đối với thửa đất số 76, diện tích 324,5m² và thửa đất số 77, diện tích 366,8m², đều thuộc tờ bản đồ số 56, địa chỉ tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Bà H xin từ chối nhận di sản, nếu được chia thì phần của bà để lại chia đều cho các em của bà. Bà cũng xin từ chối việc trợ giúp pháp lý cho bà, vì lý do sức khỏe bà xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.
Bị đơn - ông Nguyễn Bá L trình bày: khi bố mẹ ông còn sống thì sử dụng 02 ao do bố mẹ ông mua năm 1960 của cụ Â ở Xóm H, thôn X, xã X, huyện H (hiện cụ Â đã chết, chết năm bao nhiêu ông không rõ), còn các tài sản khác thì ông không biết. Trước khi cụ D1 chết thì cụ D1 có viết di chúc ngày 20/01/2012 để lại 01 ao diện tích 366,8m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 77 cho ông sử dụng, sau khi viết xong thì ông là người đi xin chữ ký của các anh em con lại và có người làm chứng. Nội dung chữ viết và chữ ký “Dán, Nguyễn Bá D1” là do cụ D1 viết. Còn 01 ao hiện nay ông H2 đang quản lý diện tích 324,5m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 76. Ông xác định các chữ ký “Dán, Nguyễn Bá D1” là của cụ D1 viết, còn chữ ký “Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị D, Nguyễn Bá H2” là của các anh chị em ruột của ông ký và viết, nhưng ông không đề nghị giám định các chữ ký và viết trên.
Gia đình ông bắt đầu sử dụng 2 thửa ao trên từ năm 2012 khi cụ D1 cho, trước đó thì cụ D1 vẫn sử dụng 2 thửa ao trên. Bản viết tay đề ngày 23/4/2018 mà phía nguyên đơn cung cấp thì ông không biết, đến khi cụ D1 chết được 6 ngày thì các cô con gái mang bản viết tay cho ông thì ông mới biết và các cô con gái đòi ao mà ông đang sử dụng. Nội dung chữ viết trong giấy đề lại 2 ao ngày 23/4/2018 thì
ông không rõ có phải chữ ký của cụ D1 hay không. Ông không đề nghị giám định chữ viết đối với bản viết tay của cụ D1 đề ngày 23/4/2018.
Trước đây khi bố mẹ ông mua là 2 ao, sau đó ông và ông H2 lấp ao, hiện nay đang trồng rau và đã xây tường bao xung quanh cao khoảng hơn 1m. Gia đình ông lấp năm 2012, 2013, 2014, 2017 số tiền mua đất lấp là 220.000.000 đồng và công sức của chồng ông tu tạo khoảng 10.000.000 đồng. Tổng là 230.000.000 đồng. Ông yêu cầu xem xét đối với công sức tu tạo số tiền 230.000.000 đồng. Ông xác định công sức tu tạo chỉ có vợ chồng ông.
Nay bà H, bà Đ, bà B, bà N, bà D, bà P yêu cầu phân chia di sản của bố mẹ ông để lại đối với diện tích 672m² mà hiện ông và ông H2 đang quản lý gồm mảnh vườn diện tích 324,5m² tại thửa số 76,mảnh vườn diện tích 366,8m² thửa số 77 và chia bằng hiện vật làm 6 phần cho bà P, bà D, bà H, bà Đ, bà B, bà N theo di chúc mỗi người được hưởng 112m² thì ông đồng ý đối với diện tích 324,5m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 76 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H. Còn đối với diện tích 366,8m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 77 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H hiện nay ông đang quản lý thì ông không đồng ý chia vì cụ D1 đã để lại di chúc viết cho ông ngày 20/01/2012 có người làm chứng và được sự đồng ý của các anh chị em trong gia đình.
Bị đơn - ông Nguyễn Bá H2 trình bày: quá trình chung sống bố mẹ ông có tu tạo được tài sản đất mà hiện đã chuyển nhượng sang tên ông năm 2001 (cấp đầu tiên), ngoài ra có 02 ao do bố mẹ ông mua năm 1960 của cụ Â. Đối với di chúc viết tay cụ D1 viết ngày 20/01/2012 để lại 01 ao diện tích 366,8m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 77 cho ông L sử dụng thì ông L đi xin chữ ký của mọi người và ông có ký nhưng không biết nội dung là gì. Nội dung chữ viết và chữ ký “Dán, Nguyễn Bá D1” thì ông xác định không phải do cụ D1 viết ra. Còn 01 ao hiện ông đang quản lý diện tích 324,5m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 76. Còn bản viết tay đề ngày 23/4/2018 mà phía nguyên đơn cung cấp thì ông xác định do cụ D1 viết, khi cụ D1 viết giấy này thì không có họp gia đình và ông có được biết việc cụ D1 viết nội dung này. Nội dung chữ viết trong giấy đề lại 2 ao ngày 23/4/2018 thì ông không rõ có phải chữ ký của cụ D1 hay không. Trước đây khi bố mẹ ông mua là 2 ao, sau đó ông và ông L lấp hiện nay đang trồng rau màu. Gia đình ông lấp năm 2010, hết số tiền khoảng 40 triệu đồng, xây tường hết khoảng 20 triệu đồng. Ông không yêu cầu xem xét về công sức tu tạo đất.
Nay bà H, bà Đ, bà B, bà N, bà D, bà P yêu cầu phân chia di sản của bố mẹ ông để lại đối với diện tích ao hiện nay ông đang quản lý là mảnh vườn 324,5m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 76; ông L đang quản lý mảnh vườn 366,8m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 77, yêu cầu chia làm 6 phần cho bà P, bà D, bà H, bà Đ, bà B, bà N theo di chúc mỗi người được hưởng 112m² thì ông H2 đồng ý chia 02 diện tích nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà T1 trình bày: Bà nhất trí với ý kiến của ông H2, bà không có ý kiến gì. Bà T1 vì lý do công việc nên ủy quyền cho chồng là ông Nguyễn Bá H2 tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý đến khi kết thúc vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà T trình bày: Bà thừa nhận toàn bộ nội dung trình bày của chồng bà là ông Nguyễn Bá L là đúng. Vì lý do công việc nên bà ủy quyền cho chồng bà là ông L tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý đến khi kết thúc vụ án, mọi quyết định của ông L là quyết định của bà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND xã X do ông Ngô Xuân T3, Chủ tịch đại diện trình bày: thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56, diện tích 324,5m² và thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56, diện tích 366,8m², địa chỉ tại thôn X, xã X, huyện H do của cụ Nguyễn Bá D1 để lại, hiện chưa được GCNQSDĐ. Hai thửa đất trên đủ đi ều kiện được GCNQSDĐ, tuy nhiên, người sử dụng chưa làm thủ tục GCNQSDĐ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hai thửa đất trên hiện xã quản lý dưới hình thức đất lịch sử do các cụ để lại, không phải đất công ích và được thể hiện trên bản đồ địa chính của UBND xã năm 2014. Tuy nhiên số mục kê địa chính của xã đối với hai thửa đất trên không còn lưu giữ. Việc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56, diện tích 366,8m² thể hiện trên bản đồ địa chính xã năm 2014 tên ông L là do nhầm lẫn khi quy chụp bản đồ của đơn vị đo đạc vì thời điểm năm 2013 -2014 cụ D1 vẫn còn sống. Việc cụ D1 đã cho ông L chưa thì xã không nắm được. Việc khởi kiện của các đồng nguyên đơn thì UBND xã đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông T3 xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên tòa xét xử.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND huyện H do ông Vũ Quang T2 - Phó trưởng phòng TN-MT huyện H đại diện theo ủy quyền trình bày: đối với thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56, diện tích 324,5m² và thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56, diện tích 366,8m2 trên, tại Văn bản số 491/CNVPĐK ngày 21/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H về việc cung cấp thông tin địa chính thì tại hồ sơ lưu tại Chi nhánh VPĐKĐĐ chưa thấy thông tin về việc cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất như trên. Tại biên bản làm việc giữa Phòng Tài nguyên và UBND xã X có thửa đất như trên ngày 11/3/2023 thì việc cấp GCNQSDĐ của thửa đất trên chưa được thực hiện. Theo quy định tại Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013, thì UBND cấp xã nơi có đất, có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ của người sử dụng đất và xác nhận nguồn gốc sử dụng đất. Do vậy, đề nghị Tòa án làm việc với UBND xã để xác minh làm rõ nội dung nêu trên. Đối với việc khởi kiện của nguyên đơn, UBND huyện H không có ý kiến nào khác.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 04/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã quyết định: căn cứ Điều 609; 611; 612; 613; 614; 624; 627; 628; 630; 631; 633; 643; 649; 650; 651; 688 Bộ luật dân sự. Xử:
1.Về yêu cầu khởi kiện:
Đình chỉ đối với yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị H.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn
- Giao cho bà Nguyễn Thị Đ được hưởng phần đất có diện tích 100m², có hình vẽ theo sơ đồ có các điểm nối các cạnh như sau (A1, A2, A3, A4) tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Giao cho bà Nguyễn Thị D được hưởng phần đất có diện tích 100m², có hình vẽ theo sơ đồ có các điểm nối các cạnh như sau (A3, A4, A5, A6) tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Giao cho ông Nguyễn Bá H2 được hưởng phần đất có diện tích 93.3m², có hình vẽ theo sơ đồ có các điểm nối các cạnh như sau (A5, A6, A7, A8) tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Giao cho ông Nguyễn Bá L được hưởng phần đất có diện tích 93.3 m²m², có hình vẽ theo sơ đồ có các điểm nối các cạnh như sau (A7, A8, A9, A10) trong đó có 29.1m² tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56; có 64.2 m² tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Giao cho bà Nguyễn Thị N được hưởng phần đất có diện tích 100m², có hình vẽ theo sơ đồ có các điểm nối các cạnh như sau (A9, A10, A11, A12) tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Giao cho bà Nguyễn Thị P được hưởng phần đất có diện tích 100m2, có hình vẽ theo sơ đồ có các điểm nối các cạnh như sau (A11, A12, A13, A14) tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Giao cho bà Nguyễn Thị B được hưởng phần đất có diện tích 100m², có hình vẽ theo sơ đồ có các điểm nối các cạnh như sau ( A13, A14, A15, A16) tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
- Bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B mỗi người phải trích chia số tiền tu tạo trên đất cho ông Nguyễn Bá L là 11.286.140đồng
- Ông L được nhận số tiền trích chia công sức tu tạo trên đất từ bà Đ, bà P, bà N, bà D, bà B tổng là 56.430.700 đồng (mỗi người là 11.286.140đồng).
Bà Đ, bà P, bà N, bà D, bà B, ông H2, ông L được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản là quyền sử dụng đất được giao theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 18/7/2023, bà Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị B kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia cho mỗi bà được nhận đủ 120m² đất di sản bố mẹ để lại.
Ngày 19/7/2023, ông Nguyễn Bá L kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chỉ chỉ thừa kế diện tích đất tại thửa đất số 76 còn thửa đất số 77 bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông nên không đồng ý chia.
Ngày 20/7/2023, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Đ có đơn tự nguyện rút toàn bộ đơn kháng cáo và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đồng nguyên đơn có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà P, bà N, bà Đ, bà B tự nguyện rút kháng cáo; Bị đơn ông L giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết nội dung vụ án.
Tại phiên tòa, ông L và bà T ý kiến bố mẹ ông đã cho ông diện tích mảnh vườn 366,8m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 77 để thờ cúng tổ tiên, có di chúc năm 2012 do ông là con trưởng nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện và quyết định của Bản án sơ thẩm chia thừa kế diện tích đất này. Ông L đề nghị HĐXX không chấp nhận nội dung khởi kiện của các đồng nguyên đơn đối với yêu cầu chia thừa kế mảnh vườn 366,8m² tại tờ bản đồ số 56, thửa số 77. Nếu phải chia thì ông yêu cầu những người được hưởng phải trích trả công sức tôn tạo, duy trì đất là 230.000.000 đồng cho ông và vợ ông mỗi người ½ của số tiền trên. Ông L và bà T đều xác định vợ chồng ông bà được quản lý, sử dụng chung diện tích đất ao này.
Luật sư Phạm Xuân A bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà P trình bày quan điểm, phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án và cho rằng các đồng nguyên đơn khởi kiện để chia hai diện tích đất ao nay là đất vườn mà ông L và ông H2 đang quản lý là di sản của cụ D1 và cụ P1 để lại là hoàn toàn có căn cứ. Bản án sơ thẩm đã nhận định và quyết định chia đối với cả hai diện tích đất này bằng hiện vật cho những người thừa kế của hai cụ là đúng pháp luật. Mặc dù Tòa án sơ thẩm có xác định sai tư cách tố tụng của ông H2 nhưng không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ án. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đối với yêu cầu trích trả tiền công tôn tạo đất của ông L, bà T lẽ ra ông L phải có đơn yêu cầu phản tố, bà T phải có đơn yêu cầu độc lập thì mới được giải quyết nhưng ông L, bà T đã không làm đơn. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm các đồng nguyên đơn đồng ý trích trả ông L, bà T công sức tôn tạo đất với mức 60.000.000 đồng để giải quyết dứt điểm vụ án là hợp lý và được Tòa án sơ thẩm chấp nhận. Án sơ thẩm có thiếu sót đó là không giao các tài sản trên đất do ông L,
bà T tạo lập cho ai được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, đề nghị HĐXX sửa nội dung này.
Bà P đồng ý với ý kiến phát biểu của Luật sư Anh không bổ sung gì thêm.
Bà N, bà P, bà B không phát biểu tranh luận gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành tốt quy định của bộ luật tố tụng dân sự do vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do.
Về nội dung sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, xem xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Bá L, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 289 Bộ Luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), chấp nhận một phần kháng cáo của ông L, sửa Bản án sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Đ, bà P, bà B, bà N. Án phí DSPT: ông L, bà Đ, bà P, bà B, bà N không phải chịu. Hoàn trả bà B, bà N mỗi người 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn và ông Nguyễn Bá H2 là bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị D, bà Ngô Thị T1, đại diện UBND xã X, đại diện UBND huyện H là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt lần thứ hai không có lý do. HĐXX căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 của BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2]. Xét nội dung vụ án và kháng cáo của ông Nguyễn Bá L, HĐXX thấy:
[2.1]. Về hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế, thời hiệu khởi kiện, thấy: cụ P1 và cụ D1 sinh được 8 người con gồm: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958; ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1959; bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1963; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1974; ông Nguyễn Bá H2, sinh năm 1977. Ngoài 8 người con đẻ của các cụ thì không có con nuôi, con riêng nào khác.
Cụ Nguyễn Thị P1, chết năm 2015 và cụ Nguyễn Bá D1, chết năm 2021. Cụ P1 chết không để lại di chúc, cụ D1 chết có để lại di chúc, nên thời điểm mở thừa kế là năm 2015 và năm 2021. Căn cứ Điều 623 của Bộ luật Dân sự(BLDS) và Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 hì thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Tòa án sơ thẩm thụ lý, giải quyết yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của các nguyên đơn là có căn cứ.
[2.2]. Về di sản của cụ P1, cụ D1 để lại, thấy: nguồn gốc hai thửa đất đang tranh chấp mà các đồng nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế có diện tích 672m² (diện tích thực tế là 686,6m²): các đương sự đều thống nhất đây là di sản của cụ P1 và cụ D1 để lại, nay ông H2 đang quản lý, sử dụng diện tích 322,4m², ông L đang quản lý, sử dụng diện tích 364,2m². Hiện tại hai thửa đất này đều chưa được cấp GCNQSDĐ. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay hai thửa đất trên thuộc quyền quản lý của người dân, không thuộc đất công ích, đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ và vẫn thuộc quyền sử dụng của cụ Nguyễn Bá D1.
Nay các đồng nguyên đơn và ông H2 đồng ý chia theo di chúc cả hai thửa đất trên; ông L và bà T chỉ đồng ý chia thửa số 76, tờ bản đồ 56, diện tích 322,4m² hiện ông H2 đang quản lý, sử dụng; đối với thửa số 77, tờ bản đồ 56, diện tích 364,2m² mà ông L, bà T đang quản lý, sử dụng thì ông L, bà T không đồng ý chia do cụ D1 đã để lại di chúc cho ông L sử dụng năm 2012.
[2.3]. Về hiệu lực của các di chúc mà cụ D1 lập, HĐXX thấy:
- Ngày 20/01/2012, cụ Nguyễn Bá D1 viết di chúc để lại cho ông Nguyễn Bá L thửa ao, nhưng không nói rõ thửa ao nào, thuộc thửa nào, tờ bản đồ nào, diện tích bao nhiêu.
- Ngày 23/4/2018, cụ Nguyễn Bá D1 tiếp tục viết di chúc thứ hai, nội dung để lại cho 06 người con gái gồm bà P, bà H, bà Đ, bà N, bà D và bà B được sử dụng 02 thửa đất nêu trên.
Hai bản di chúc trên của cụ D1 viết vào hai thời điểm khác nhau, di chúc ngày 20/01/2012, nội dung di chúc viết không rõ ràng về thửa đất, diện tích; di chúc ngày 23/4/2018, thể hiện được vị trí thửa đất, nội dung rõ ràng hơn. Mặc dù 02 di chúc trên cụ D1 khi còn sống viết không được cụ thể nhưng các đương sự trong vụ án đều thừa nhận nội dung của 02 bản di chúc do cụ D1 để lại là thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 có diện tích hiện tại là 322,4m² và thửa số 77, tờ bản đồ số 56 có diện tích hiện tại là 364,2m² tại xóm H, thôn X, huyện H, tỉnh Bắc Giang của cụ P1 và cụ D1 sử dụng khi còn sống. Khi cụ D1 viết tinh thần cụ vẫn minh mẫn. Theo kết luận giám định số 2156/KL -KTHS ngày 24 tháng 11 năm 2022 thì xác định 2 di chúc trên đều do cụ Nguyễn Bá D1 viết.
Theo Điều 640 của BLDS quy định “Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ”. Như vậy, trong trường hợp này thì di chúc sau đề ngày 23/4/2018 có hiệu lực, còn di chúc ngày 20/01/2012 không còn hiệu lực nữa. Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 có diện tích hiện tại là 322,4m², thửa số 77, tờ bản đồ số 56 có diện tích hiện tại là 364,2m², tại xóm H, thôn X, huyện H được xác định là di sản của cụ P1 và cụ D1 để lại. Do vậy, cụ D1 chỉ được để lại di chúc đối với phần của cụ D1 được hưởng, phần của cụ P1 chết trước cụ D1 không có di chúc nên Tòa án sơ thẩm đã chia theo pháp luật cho hàng thừa kế được hưởng của cụ P1 là có căn cứ theo quy định tại Điều 650 của BLDS.
[2.4]. Về công sức tôn tạo 2 thửa đất:
- Đối với công sức tu tạo trên thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 có diện tích là 322,4m² do ông H2, bà T1 quản lý, sử dụng, quá trình giải quyết vụ án ông H2, bà T1 không yêu cầu nên Tòa án sơ thẩm không xem xét, giải quyết là có căn cứ.
- Đối với thửa số 77, tờ bản đồ số 56 có diện tích hiện tại là 364,2m² hiện nay do ông L, bà T đang quản lý, sử dụng, quá trình giải quyết ông L, bà T yêu cầu xem xét công sức tu tạo đất tổng là 230.000.000 đồng. Tòa án sơ thẩm đã làm việc với những ngưới làm chứng do ông L cung cấp về việc mua đất, mua gạch thì những người này đều xác định có bán đất, bán gạch cho gia đình ông L nhưng không nhớ rõ số tiền là bao nhiêu. Tại phiên tòa sơ thẩm các đồng nguyên đơn nhất trí trích chia công sức tu tạo trên đất cho ông L là 60.000.000 đồng. Các đương sự (trừ ông L, bà T) đều thừa nhận hai ao có độ sâu khoảng 1,5m. Tòa án sơ thẩm đã xem xét công đổ đất là 127.000đồng/1m³x 1.5 x 364.2m² = 69.380.000 đồng và giá trị tài sản trên đất là 17.825.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm ông L, bà T cho rằng ao này sâu khoảng gần 4m và phải đổ gần 4000m³ đất, bà B thừa nhận quá trình bà tân ruộng làm nhà có múc hết phần bùn của ao khoảng 0,5m để tân đất của gia đình bà trong hai ngày nên chiều sâu của ao sau khi bà múc bùn khoảng 2m. Như vậy có căn cứ khẳng định bà B đã lấy bùn đi san lấp khoảng 0,5m dẫn đến độ sâu của ao khi ông L, bà T san lấp khoảng 2m. HĐXX thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm tình giá trị công tôn tạo đất như trên là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, bà T. Theo kết quả đo đạc thì thấy thửa đất trên có các cạnh như sau: cạnh giáp thửa 111 là 21,33m; cạnh giáp đất thửa 76 ông H2 đang quản lý là 16,75m; cạnh giáp đường vào thửa 76, 77 trên là 17,04m và cạnh còn lại là 21,04m. Theo công thức tính m³ hình hộp thì sẽ bằng chiều dài x chiều rộng x chiều cao. Như vậy có thể tính toán một cách tương đối khối lượng đất ông L, bà T tôn tạo được là: trung bình hai cạnh chiều dài đối diện tính được là 21,33 + 17,04 : 2 = 19,185m; trung bình hai cạnh chiều rộng đối diện tính được là 16,75 + 21,04 : 2 = 18,895m; chiều cao trung bình là độ sâu của ao khi phải san lấp là 2m. Như vậy khối lượng đất ông L, bà T san lấp tính được là 19,185 x 18,895 x 2 = 725,002m² (làm tròn); giá trị tiền là 127.000₫ x 725,002 = 92.075.000 đồng (làm tròn).
Do các đương sự đều có nguyện vọng chia di sản bằng đất, bà H từ chối nhận di sản, hiện trạng các thửa đất này có thể chia được bằng đất cho các đương sự nên Tòa án sơ thẩm đã chia di sản bằng đất cho các đương sự là phù hợp.
Ông L kháng cáo không đồng ý chia diện tích đất 364,2m² thửa số 77, tờ bản đồ số 56 mà vợ chồng ông đang quản lý nhưng không cung cấp được tài liệu gì chứng minh diện tích đất này ông được quyền quản lý, sử dụng hợp pháp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông L.
* Đối với việc giải quyết yêu cầu trích chia công sức tôn tạo đất của ông L, bà T: tại cấp sơ thẩm ông L không có đơn yêu cầu phản tố, bà T không có đơn yêu cầu độc lập. Việc ông L, bà T cho rằng thửa đất số 77, tờ bản đồ 56 là của vợ chồng ông bà đã bao trùm cả nội dung trích chia công sức nên cần giải quyết mới triệt để các nội dung của vụ án.
HĐXX thấy: Tòa án sơ thẩm xác định giá trị công tôn tạo chưa đảm bảo theo phân tích ở trên nên cần tính toán lại số tiền các đương sự phải trích trả công tôn tạo của ông L, bà T. Mặt khác Bản án sơ thẩm chỉ tuyên các đương sự bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B mỗi người phải trích chia số tiền tu tạo trên đất cho ông Nguyễn Bá L là 11.286.140 đồng mà không tuyên trích trả cho bà T (vợ ông L) là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà T trong vụ án nên cần phải sửa nội dung này. Theo đó giá trị tài sản trên đất do ông L, bà T tạo dựng là 17.825.000 đồng, công tôn tạo đất là 92.075.000 đồng. Tổng số tiền những người được chia di sản phải trích trả cho ông L, bà T là 109.900.000 đồng. Ông H2 được chia kỷ phần bằng đất trên phần diện tích đất do ông đang quản lý, sử dụng và có công tôn tạo trên đất này nên không phải trích trả tiền công tôn tạo đất và tài sản trên đất của ông L, bà T. Ông L được chia phần diện tích đất trên đất có 01 nhà tạm và 01 tường bao giáp thửa đất số 76 có giá tổng là 7.000.000 đồng. Do vậy, Bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B được chia kỷ phần bằng đất trên đất có các tài sản còn lại do ông L, bà T tạo lập trị giá 10.825.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án bà Đ, bà N, bà P, bà B, bà D tự nguyện nhận trách nhiệm cùng có nghĩa vụ trích trả bằng nhau phần công tôn tạo đất và giá trị tài sản trên đất cho ông L, bà T nên mỗi người phải trích trả cho ông L, bà T là 92.075.000 + 10.825.000 = 102.900.000 : 5 = 20.580.000 đồng.
[2.5]. Đối với việc cấp sơ thẩm đã buộc những người được hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật phải hoàn trả giá trị công tôn tạo đất, tài sản trên đất do ông L, bà T tạo lập nhưng không giải quyết giao cho ai được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng các tài sản trên đất được chia do ông L, bà T, ông H2, bà T1 tạo lập. Nay cần phải xem xét giao các tài sản này nằm trên phần diện tích đất chia cho người nào được quản lý, sử dụng đất thì được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng theo biên bản thẩm định ngày 26/12/2023.
[3]. Đối với việc xác định tư cách tố tụng của ông H2 là bị đơn trong vụ án, HĐXX thấy, tại đơn khởi kiện ban đầu, ông H2 ký đơn khởi kiện cùng với bà H, bà Đ, bà P, bà N, bà D, bà B. Sau khi có thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện của Tòa án thì chỉ có bà H, bà Đ, bà P, bà N, bà D, bà B làm và ký đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đó các bà khởi kiện ông L yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ P1, cụ D1 để lại. Như vậy ông H2 không phải là bị đơn trong vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của BLTTDS. Do ông H2 thuộc hàng thừa kế thứ nhất và là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng một phần di sản của cụ P1, cụ D1 để lại nên là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của BLTTDS. Tuy nhiên sai lầm này không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự, không làm thay đổi bản chất vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[4]. Đối với việc chia di sản thừa kế, HĐXX thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ P1 và cụ D1 để lại là 686.6m² : 2 = cụ P1 được hưởng 343.3m² và cụ D1 được hưởng 343.3 m². Án sơ thẩm chia phần của cụ P1 chia cho 8 người được hưởng gồm (cụ D1, ông L, bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B, anh H2) mỗi người được hưởng kỷ phần bằng nhau là 42.91m² là chưa đảm bảo mà cần phải chia làm 09 phần bao gồm cả phần của bà H là con cụ P1 nên thuộc hàng thừa kế thứ nhất cũng được hưởng. Như vậy kỷ phần của 9 người mỗi người được chia là 343,3 : 9 = 38,14m².
Phần của cụ D1 được hưởng là 343.3m² +38,14m² (di sản của cụ P1 chia) = 381,44m².
Như vậy di sản của cụ D1 để lại là 381,44m² cho 6 người gồm bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B, bà H mỗi người được 63,57m².
Phần 38,14m² bà H được nhận di sản từ cụ P1 và 63,57m² từ cụ D1 do bà H từ chối nhận di sản và ý kiến để lại chia đều cho các em bà nên phần này được chia đều cho bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B, ông L, ông H2 mỗi người được hưởng là 38,14m²+ 63,57m2 = 101,71m² : 7 = 14,53m².
Như vậy: xác định các đồng nguyên đơn bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B mỗi người được hưởng kỷ phần theo di chúc và theo pháp luật là 38,14m² + 63,57m2 + 14,53m² = 116,24m².
Ông H2, ông L được hưởng phần di sản của cụ P1 để lại theo pháp luật và phần của bà H tự nguyện để lại cho là 38,14 + 14,53 = 52,67m².
Do vậy, HĐXX phúc thẩm cần xác định lại phần di sản các đương sự được hưởng để chia nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự theo luật định.
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân chia cho các đồng bị đơn mỗi người được hưởng 100m2 đất di sản của cụ D1, cụ P1 để lại, phần đất các đồng bị đơn được hưởng còn lại giao cho ông L, ông H2 được mỗi người được quản lý, sử dụng tăng 40,63m² đất thuộc kỷ phần di sản các bà được chia, chênh lệch ông L, ông H2 trích trả các đồng nguyên đơn bằng tiền trị giá diện tích đất này để đảm bảo giá trị sử dụng đất là hợp lý. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm các đồng nguyên đơn nhất trí không có ý kiến gì nên cần giữ nguyên cách phân chia về diện tích và vị trí như án sơ thẩm đã quyết định.
HĐXX phúc thẩm thấy cần tính toán lại trị giá di sản mà các đương sự được hưởng để làm căn cứ tính án phí sơ thẩm và làm căn cứ để buộc ông L, ông H2 phải trả bằng tiền cho các đồng nguyên đơn. Cụ thể giá trị phần đất 40,63m² ông L, ông H2 được nhận thuộc phần của các đồng nguyên đơn là 40,63m² x 250.000đ = 10.157.500 đồng. Như vậy ông L, ông H2 mỗi ông phải trích trả cho bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B mỗi người là 10.157.500 đồng : 5 = 2.031.500 đồng.
Do các đồng nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu ông H2 phải trích trả phần trị giá đất trên nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra xem xét là có căn cứ.
Đối với phần bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B phải trích trả trị giá công tôn tạo đất, tài sản trên đất cho ông L, bà T cần đối trừ phần bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B được ông L trích trả chênh lệch di sản mỗi người 20.580.000 đồng - 2.031.500 đồng ông L có nghĩa vụ trích trả bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B giá trị diện tích đất 40,66m². Bà P, bà Đ, bà N, bà D, bà B còn phải trích trả cho ông L, bà T là 18.548.500 đồng.
[5]. Xét kháng cáo của bà Đ, bà P, bà B, bà N: ngày 20/7/2023 bà Đ, bà P, bà B, bà N đều có đơn xin rút đơn kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đ, bà P, bà B, bà N đều khẳng định việc rút kháng cáo trên là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX thấy cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Đ, bà P, bà B, bà N theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289 của BLTTDS.
[6]. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản, đo vẽ tại cấp sơ thẩm hết số tiền 3.522.000 đồng và chi phí thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm hết 1.500.000 đồng. Bà P đã tạm ứng đủ, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bà P xin chịu cả là sự tự nguyện của bà P nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện này.
[7] Về án phí chia di sản: cần tính lại do sửa án sơ thẩm về phân chia di sản thừa kế. Cụ thể:
- Ông H2, ông L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần được chia là 52,67 m²x 250.000đồng/m² = 13.167.500 đồng x 5% = 658.375 đồng. Do ông L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bà P, bà N, bà Đ, bà B mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần được chia là 116,24m² x 250.000đồng/m² = 30.515.000 x 5% = 1.450.000 đồng. Do bà P, bà Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6]. Về án phí DSPT: do chấp nhận một phần kháng cáo nên ông L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà bà B, bà N mỗi người đã nộp 300.000đ, do đã rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa nên bà B, bà N mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại bà B, bà N mỗi người 300.000 đồng đã nộp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Xử: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Đ, bà P, bà B, bà N.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Bá L; sửa Bản án sơ thẩm số 75/2023/DSST ngày 04/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa.
Căn cứ Điều 468, Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 624, Điều 627, Điều 628, Điều 630, Điều 631, Điều 633, Điều 643, Điều 649, Điều 650, Điều 651 của Bộ luật dân sự: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn.
Xác nhận di sản của cụ Nguyễn Bá D1 và cụ Nguyễn Thị P1 để lại là quyền sử dụng 686.6m² đất tại thửa số 76, 77, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Chia và giao cho bà Nguyễn Thị Đ được hưởng thừa kế phần đất có diện tích 100 m², có hình vẽ theo sơ đồ có điểm nối các cạnh (A1, A2, A3, A4) tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang và 01 đoạn tường bao dài 23,77m trên đất.
- Chia và giao cho bà Nguyễn Thị D được hưởng thừa kế phần đất có diện tích 100 m², có hình vẽ theo sơ đồ có điểm nối các cạnh (A3, A4, A5, A6) tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang và 01 đoạn tường bao 5,45m trên đất.
- Chia và giao cho ông Nguyễn Bá H2 được hưởng thừa kế phần đất có diện tích 93.3m², có hình vẽ theo sơ đồ có điểm nối các cạnh (A5, A6, A7, A8) tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Chia và giao cho ông Nguyễn Bá L được hưởng thừa kế phần đất có diện tích 93.3 m², có hình vẽ theo sơ đồ có điểm nối các cạnh (A7, A8, A9, A10) trong đó có 29.1 m² tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 56; có 64.2 m² tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang và 01 nhà tạm, 01 cây xoài, 01 cây xưa, 01 khóm chuối, 01 đoạn tường 4,77m, 01 đoạn tường dài 16,75m trên đất.
- Chia và giao cho bà Nguyễn Thị N được hưởng thừa kế phần đất có diện tích 100 m², có hình vẽ theo sơ đồ có điểm nối các cạnh (A9, A10, A11, A12) tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang và 01 cây mít (nhỏ), 01 đoạn tường 5,97m trên đất.
- Chia và giao cho bà Nguyễn Thị P được hưởng thừa kế phần đất có diện tích 100 m², có hình vẽ theo sơ đồ có điểm nối các cạnh (A11, A12, A13, A14) tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang và 01 đoạn tường 4,73m, 01 đoạn tường bao phía sau 3,36m trên đất.
- Chia và giao cho bà Nguyễn Thị B được hưởng thừa kế phần đất có diện tích 100 m², có hình vẽ theo sơ đồ có điểm nối các cạnh (A13, A14, A15, A16) tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 56 tại xóm H, thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang và 01 khóm chuối, 01 cây ổi nhỏ, 1 đoạn tường 3,57m, 01 đoạn tường dài 20,44m, 01 đoạn tường mặt sau 5,74m trên đất;
- Bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B mỗi người phải trích chia số tiền tu tạo trên đất cho ông Nguyễn Bá L, bà Nguyễn Thị T là 18.548.500 đồng.
Bà Đ, bà P, bà N, bà D, bà B, ông H2, ông L được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất được giao theo quy định của pháp luật.
2. Án phí: ông Nguyễn Bá H2 phải chịu 658.375 đồng, bà Nguyễn Thị N phải chịu 1.450.000 đồng, bà Nguyễn Thị B phải chịu 1.450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Nguyễn Bá L, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị P được miễn toàn bộ án phí.
Hoàn trả bà Nguyễn Thị B 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu số 0002865, hoàn trả bà Nguyễn Thị N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu số 0002864 đều cùng ngày 18/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 203/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp chia thừa kế
- Số bản án: 203/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế
