TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Đổi.
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 525/2023/TLST – DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 232/2024/QĐXXST – DS ngày 22 tháng 6 năm 2024 và Quyết định ngừng phiên tòa số: 19/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1989.
- Ngô Thị Thì L1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu V, phường L, thị xã N, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.
Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông L, bà L1: Ông Phạm H, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Đường T, Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (Theo văn bản ủy quyền ngày 06 tháng 10 năm 2023).
- Bị đơn có yêu cầu phản tố:
- Ông Đoàn Quang K, sinh năm 1954.
- Bà Đinh Thị Kim Q, sinh năm 1960.
Cùng địa chỉ: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông K: Bà Đinh Thị Kim Q, sinh năm 1960 (Theo văn bản ủy quyền 09 tháng 11 năm 2023).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng công chứng Võ Văn N do ông Võ Văn N – Trưởng Văn phòng đại diện.
Địa chỉ: Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, xin vắng mặt.
(Các đương sự có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 9 năm 2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 19 tháng 10 năm 2023 cùng các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị Thì L1 do ông Phạm Hoàng đại d trình bày như sau:
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, ông Nguyễn Văn L ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q. Hai bên thỏa thuận, ông L thuê của ông K, bà Q diện tích ngang 17m dài 45m thuộc thửa 755 tờ bản đồ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, thời hạn thuê 05 năm, giá thuê 12.000.000đồng/tháng; Ông K, bà O có nhận số tiền 36.000.000đồng thế chân. Kể từ tháng 03/2023, ông K và bà O đã giao quyền sử dụng đất cho ông L nhận đất sử dụng. Ông L đã trả tiền thuê đất được 02 lần số tiền là 42.000.000đồng. Sau khi nhận đất, ông L có đầu tư các tài sản trên đất như: nhà tiền chế (nhà bán kiên cố), nhà lá, mái che, nền bê tông, miếu T1, hàng rào, cửa cổng trước, cửa cổng sau, khuôn bếp, trục bồn nước, bảng hiệu nhỏ, tủ trưng bày... tổng chi phí đầu tư là 1.726.000.000đồng.
Quá trình sử dụng, ông L cho rằng đất ông K, bà Q cho thuê đất có lấn chiếm qua đất của người khác khoảng 6m làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh buôn bán của ông L.
Do đó, bà L1 (vợ ông L) và ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Yêu cầu tuyên chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đã ký kết ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q với ông Nguyễn Văn L đối với phần đất diện tích ngang 17m dài 45m thuộc thửa 755 tờ bản đồ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Buộc ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q trả lại số tiền đặt cọc là 36.000.000đồng và 1.726.000.000đồng tiền giá trị tài sản trên đất, tổng cộng 1.762.000.000đồng.
- Tại phiên tòa, ông L và bà L1 yêu cầu ông K và bà O trả lại số tiền đặt cọc là 36.000.000đồng và số tiền 963.680.000đồng theo chứng thư thẩm định giá ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Công ty cổ phần T2.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có yêu cầu phản tố ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q trình bày:
Ông, bà xác nhận có ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, vị trí đất, giá đất với ông L như ông L trình bày là đúng. Ông L đã trả cho ông K, bà Q tiền thuê đất được 02 tháng là 42.000.000đồng. Sau đó, ông L xin 03 tháng để nâng cấp sửa chữa và đến tháng 9 năm 2023, do kinh doanh thua lỗ nên ông L không thanh toán tiền thuê đất.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông L thì ông K, bà Q có ý kiến:
- Đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đã ký kết ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q với ông Nguyễn Văn L đối với phần đất diện tích ngang 17m dài 45m thuộc thửa 755 tờ bản đồ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Đồng thời, phản tố yêu cầu ông L: Buộc ông L trả tiền thuê quyền sử dụng đất từ tháng 9 năm 2023 cho đến khi xét xử sơ thẩm tạm tính đến tháng 6 năm 2024 là 09 tháng thành tiền 108.000.000đồng; Buộc ông Lâm di d1 tài sản trên đất để trả lại diện tích ngang 17m dài 45m thuộc thửa 755 tờ bản đồ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Võ Văn N do ông N đại diện trình bày: Ngày 13 tháng 3 năm 2023, Văn phòng C có chứng thực Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông L với ông K và bà O, vị trí đất ngang 17m dài 45m thuộc thửa 755(mpt) tờ bản đồ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Việc chứng thực hợp đồng trên đã được thự hiện đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Văn phòng công chứng Võ Văn N không có ý kiến gì trong vụ án này. Đồng thời, xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến tranh luận tại phiên tòa (có bài phát biểu kèm theo), Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư K1, Hội đồng xét xử, các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng thủ tục tố tụng. Viện kiểm sát không có kiến nghị bổ sung thêm.
- Về nội dụng vụ án: Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông L và ông K, bà Q thỏa thuận cho thuê 01 phần đất có chiều ngang 17m và chiều dài 45m thuộc thửa 755, TBĐ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Các bên thừa nhận đã giao quyền sử dụng đất cho thuê, bên thuê đã sử dụng và xây dựng trên phất đất cho thuê.
Ông L trình bày khi xây dựng cơ sở kinh doanh và sử dụng có tranh chấp phần đất ngang 06m, dài 45m với bà Phạm Thị T, người đại diện là ông Vũ Văn Đ. Tuy nhiên, ông Đ chưa sử dụng phần đất tranh chấp và không buộc ông L phải tháo dỡ tài sản trên đất ngay hoặc gây rối làm ảnh hưởng việc kinh doanh của ông L. Ông L không chứng minh được việc bị gia đình bà T cản trở trong quá trình sử dụng mặt bằng, tài sản cho thuê.
Xét yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa Đoàn Quang K và Đinh Thị Kim Q với Nguyễn Văn L, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, các bên đương sự thống nhất chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 3 năm 2023. Tuy nhiên, hình thức hợp đồng, hai bên ký kết hợp đồng bằng văn bản có công chứng nhưng không có đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và sử dụng sai mục đích theo hợp đồng thuê. Do vậy, căn cứ Điều 117, Điều 129, Điều 401 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 188 của Luật đất đaiHội đồng xét xác định hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông L với ông K, bà O bị vô hiệu do vi phạm về mặt hình thức nên không phát sinh hiệu lực.
Đối với yêu cầu ông K và bà Q trả lại số tiền 36.000.000đồng là tiền đã thế chân trong hợp đồng, số tiền thế chân được thỏa thuận sẽ được ông K và bà Q trả lại sau khi hợp đồng kết thúc hoặc trừ vào tiền thuê các tháng cuối. Hiện nay hợp đồng thuê giữa các bên đã được thỏa thuận vô hiệu nên ông L yêu cầu trả lại số tiền thế chân 36.000.000đồng là có căn cứ để chấp nhận và tại phiên tòa, bà O cũng đồng ý trả lại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về số tiền thuê, xét thấy từ tháng 9/2023 đến tháng 6/2024 là 09 tháng với số tiền 108.000.000đồng, bên thuê không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê đất theo hợp đồng, không được sự đồng ý của bên cho thuê, không vì trở ngại khách quan nên yêu cầu phản tố của bị đơn trả tiền thuê theo hợp đồng, bị đơn đã sử dụng thực hiện kinh doanh, hưởng lợi trong thời gian thuê, có lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu nên yêu cầu trả tiền thuê của bị đơn là có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q phải trả lại số tiền 963.688.000đồng theo chứng thư thẩm định giá, là tiền xây dựng quán ăn, san lấp và các thiết bị nội thất, đồ gia dụng trên phần đất thuê. Tại phiên tòa, bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 750.000.000đồng, bao gồm 556.405.000đồng (công trình trên đất), 460.000đồng (cây trồng trên đất) và số tiền san lấp 260.610.000đồng, khấu trừ tiền thuê đất và tiền thế chân, chênh lệch 4.525.000đồng (750.000.000đồng – 745.475.000đồng), là có lợi cho nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Do hợp đồng thuê bị vô hiệu nên yêu cầu phản tố của bị đơn về tháo dỡ, di dời trả đất là phù hợp với Điều 131 Bộ luật Dân sự.
Đối với số tiền thiết bị, đồ gia dụng đã qua sử dụng là 146.213.000đồng, xét các tài sản này có thể di dời được, đây là những tài sản nguyên đơn mua phục vụ trong quá trình kinh doanh, bị đơn không đồng ý mua lại, lỗi sử dụng sai mục đích thuê là của nguyên đơn nên yêu cầu của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận.
Bị đơn đồng ý cho nguyên đơn thời hạn 01 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực để di dời, trả lại lại đất nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ các phân tích và chứng cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chấm dứt hợp đồng thuê, yêu cầu trả số tiền thế chân, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về chấm dứt hợp đồng thuê và yêu cầu trả số tiền thuê chưa thanh toán, ghi nhận sự tự nguyện nguyện của bị đơn về bồi thường cho nguyên đơn số tiền 750.000.000đồng và thời hạn di dời tài sản trả đất theo hướng đã phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”; Bị đơn hiện đang sinh sống cũng như vị trí đất tranh chấp tại huyện Đ, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.
[1.3] Tại tòa, nguyên đơn ông L và bà L1 thay đổi yêu cầu khởi kiện “Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: Ông L và bà L1 yêu cầu ông K và bà O trả lại số tiền đặt cọc là 36.000.000đồng và số tiền 963.680.000đồng theo chứng thư thẩm định giá ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Công ty cổ phần T2”. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông L và bà L1 là phù hợp với quy định tại Điều 5 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án: Xét thấy, ông Nguyễn Văn L với ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q đều thừa nhận có giao kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 3 năm 2023. Nội dung ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q cho ông Nguyễn Văn L thuê phần đất ngang 17m dài 45m thuộc thửa 755 (mpt) tờ bản đồ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, thời hạn thuê 05 năm, giá thuê 12.000.000đồng/tháng nên căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định tình tiết nêu trên là có thật.
[2.1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 3 năm 2023: Xét thấy, Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đã ký kết ngày 13 tháng 3 năm 2023, về nội dung thì hai bên có thỏa thuận về giá thuê, thời hạn thuê, phương thức trả tiền thuê, mục dích thuê. Hai bên thỏa thuận quyền và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng. Về hình thức hợp đồng, hai bên ký kết hợp đồng bằng văn bản có công chứng nhưng không có đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và sử dụng sai mục đích theo hợp đồng thuê. Do vậy, căn cứ Điều 117, Điều 129, Điều 401, Điều 500, 502, 503 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 188 của Luật đất đaiHội đồng xét xác định hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông L với ông K, bà O bị vô hiệu nên không phát sinh hiệu lực.
[2.2] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại:
Xét thấy, khi nguyên đơn đầu tư trên các tài sản trên đất, bị đơn cũng đồng ý và không có phản đối. Do các tài sản gắn liền với đất mà nguyên đơn buộc phải giao lại cho bị đơn nên bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả giá trị cho nguyên đơn theo quy định Điều 131 của Bộ luật dân sự. Mặt khác, tại phiên tòa thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đặt cọc là 36.000.000đồng và bồi thường giá trị tài sản trên đất số tiền 963.680.000đồng theo chứng thư thẩm định giá ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Công ty cổ phần T2 và bị đơn có yêu cầu phản tố, chỉ đồng ý bồi thường cho nguyên đơn giá trị tài sản trên đất số tiền 963.680.000đồng, bao gồm 556.405.000đồng (công trình trên đất), 460.000đồng (cây trồng trên đất) và số tiền san lấp 260.610.000đồng, khấu trừ tiền nhận thể chân, chênh lệch 4.525.000đồng (750.000.000đồng – 745.475.000đồng), là có lợi cho nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Đối với các thiết bị, đồ gia dụng đã qua sử dụng được định giá số tiền 146.213.000đồng. Xét các tài sản này có thể di dời được và đây là những tài sản mà nguyên đơn mua phục vụ trong quá trình kinh doanh. Mặt khác, bị đơn không đồng ý mua lại nên yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[2.4] Đối với việc bị đơn đồng ý cho nguyên đơn thời hạn 01 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực để di dời, trả lại lại đất cho bị đơn. Xét đây là sự tự nguyện của bị đơn và phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn: Xét thấy từ tháng 9/2023 đến tháng 6/2024 là 09 tháng với số tiền 108.000.000đồng, bên thuê không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê đất theo hợp đồng, không được sự đồng ý của bên cho thuê, bên thuê có lỗi sử dụng sai mục đích thuê, đã hưởng lợi từ việc kinh doanh quán ăn nên phải chịu bồi thường. Do đó, xét thấy yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận nhận.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định pháp luật như đã phân tích trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về chi phí xem xet, thẩm định tại chỗ, bản vẽ và định giá: Xét nguyên đơn có yêu cầu xem xét thẩm định tại chổ và định giá giá trị tài sản tranh chấp và bị đơn có yêu cầu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ lại. Trong vụ án này, nguyên đơn được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và bị đơn được chấp nhận yêu cầu phản tố nên cần cộng lại chia theo tỷ lệ phần trăm là ¼ là phù hợp.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án; Buộc ông L và bà L1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm về yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận. Ông K và bà O không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 5, Điều 26, Điều 92, Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 117, Điều 129, Điều 131, khoản 2 Điều 357, Điều 401, Điều 422, Điều 479, Điều 481 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào Điều 188 của Luật Đất Đai.
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị Thì L1 về việc “tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại”.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đoàn Quang K, bà Đinh Thị Kim Q về việc “Yêu cầu trả tiền thuê quyền sử dụng đất”.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị Thì L1 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại” đối với các thiết bị, đồ gia dụng đã qua sử dụng được định giá số tiền 146.213.000đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản: Tổng tiền nguyên đơn ông L, bà L1 nộp 34.000.000đồng, tổng số tiền bị đơn ông K, bà Q nộp 3.000.000đồng. Tổng chi phí tố tụng 37.000.000đồng, buộc bị đơn chịu tỷ lệ ¼, cụ thể: Ông L, bà L1 chịu số tiền 9.250.000đồng, được khấu trừ số tiền 34.000.000đồng đã nộp. H1 lại cho ông L, bà L1 số tiền 24.750.000đồng. Ông K, bà Q chịu số tiền 27.750.000đồng, được khấu trừ số tiền 3.000.000đồng đã nộp. Buộc ông K, bà Q nộp tiếp số tiền 24.750.000đồng để trả lại cho ông L, bà L1.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Vô hiệu Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đã ký kết ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa ông Nguyễn Văn L với ông Đoàn Quang K, bà Đinh Thị Kim Q, đối với phần đất có chiều ngang 17m và chiều dài 45m thuộc thửa 755 (mpt), Tờ bản đồ số 35 tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Đoàn Quang K và bà Đinh Thị Kim Q trả lại số tiền đặt cọc là 36.000.000đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị Thì L1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Đoàn Quang K, bà Đinh Thị Kim Q tiền thuê nhà từ tháng 9/2023 đến tháng 6/2024 là 09 tháng với số tiền 108.000.000đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn: Buộc ông Đoàn Quang K, bà Đinh Thị Kim Q phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị Thì L1 số tiền 750.000.000đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm thi hành án.
- Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị Thì L1 phải có trách nhiệm liên đới chịu số tiền 7.311.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm về yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và số tiền 5.400.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả tiền thuê đất. Tất cả sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền 24.540.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 5909 ngày 06 tháng 10 năm 2023. H1 lại cho ông L số tiền 22.399.000đồng theo biên lai thu số 5909 ngày 06 tháng 10 năm 2023; biên lai thu số 5908 ngày 06 tháng 10 năm 2023 và biên lai thu số 5464 ngày 28 tháng 11 năm 2023.
- Ông Đoàn Quang K, bà Đinh Thị Kim Q không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Mai Văn Hiệp |
Bản án số 525/2023/TLST – DS ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 525/2023/TLST – DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thue quyen su dung dat
