|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 203/2024/HS-ST
Ngày 26 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phi Hùng
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối bị cáo:
Nguyễn Thành C (tên gọi khác: T), sinh năm 1987 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Khối phố H, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi sinh sống: Khối phố H, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Hoàng Thị M; Bị cáo có vợ tên Phạm Thị H và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019.
- Nhân thân:
- Ngày 01/8/2002, bị Ủy ban nhân tỉnh Đ áp dụng biện pháp đưa vào Trường G theo Quyết định số 2751/QĐ.CT-UBT, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 14/6/2004.
- Ngày 12/10/2006, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục theo Quyết định số 9004/QĐ-UBND, thời hạn 24 tháng.
- Tiền án: Ngày 24/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số
41/2008/HS-ST (bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 18/12/2009). Bị cáo chưa đóng án phí và bồi thường dân sự.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/10/2023, đến ngày 24/10/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Bị hại: Ông Lý Văn N, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Khu A, ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- Bà Huỳnh Thị Bạch H1, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Khu A, ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai. - Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Số B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt, bị hại và người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 01-11-2013, anh Phạm Văn T2 (sinh năm 1982, ngụ tại B, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đang bán đồ ăn tại lề đường Nguyễn Văn T3 đoạn thuộc khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì có Nguyễn Thành C đến mua khoai nướng và trứng gà nướng. Cùng lúc này, chị Huỳnh Thị Bạch H1 (sinh năm 1976) cũng đến mua khoai nướng của anh T2. Chị H1 nhầm tưởng C là người phụ bán hàng của anh T2 nên chị H1 yêu cầu C mang khoai nướng sang bên kia đường cho chị H1, dẫn đến C và chị H1 cãi nhau. C bực tức dùng tay phải tát 01 (một) cái vào mặt chị H1, chị H1 chạy sang bên kia đường nói cho anh Lý Văn N (sinh năm 1974 ngụ tại khu A, ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai - chồng chị H1) biết việc bị đánh. Anh N và chị H1 đi đến chỗ C. Anh N xông đến dùng tay đấm 01 (một) cái trúng vào mặt C rồi anh N và C xô xát đánh nhau. C chạy lại xe đẩy của anh T2 (cách khoảng 05m) lấy 01 (một) con dao bằng sắt dài khoảng 35cm, bản rộng khoảng 07cm, đầu nhọn, sống dao hình răng cưa (thường dùng để chặt than củi) của anh T2 cầm trên tay phải đuổi chém anh N. Anh N bỏ chạy khoảng 06m thì bị vấp ngã xuống đường, C xông đến dùng dao chém 03 (ba) nhát hướng từ trên xuống trúng vùng đầu anh N gây thương tích. C chém tiếp 01 (một) nhát, anh N đưa tay phải lên đỡ nên lưỡi dao trúng cổ tay phải của anh N gây thương tích. Anh N đứng lên bỏ chạy thì C chém tiếp 01 (một) nhát trúng vùng vai trái và dùng sống dao chém 01 (một) nhát trúng lưng anh N gây thương tích. Khi này, lực lượng Cảnh sát 113 đến nên C bỏ chạy, anh N được lực lượng Cảnh sát 113 cấp cứu tại Bệnh viện Đ.
Sau khi gây án, Nguyễn Thành C bỏ trốn. Đến ngày 21/10/2023 C đến đầu thú tại Công an phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
Tại Bản kết luận giám định thương tật số 1041/GĐPY/2013 ngày 27/11/2013 của Trung tâm pháp y, Sở Y kết luận:
Thương tích đầu, lưng, vai và tay phải do vật sắc.
- Lâm sàng: Để lại vết thương vùng chẩm kích thước 04cm, bờ mép gọn. Vết thương vùng trán - thái dương đỉnh trái kích thước 04cm, bờ mép sắc gọn. Vết thương vùng đỉnh thái dương trái kích thước 04cm, bờ mép sắc gọn. Vết thương vai trái kích thước 04cm. 03 vết xây xát da lưng bên phải. Vết thương cổ tay phải kích thước 04cm, gãy mỏm trâm trụ phải.
- Cận lâm sàng: Gãy mỏm trâm trụ phải. Không thấy tổn thương trên phim sọ và vai phải.
- Áp dụng Chương VIII, điều 2, mục 12 cho gãy mỏm trâm trụ phải, tỷ lệ 10%.
- Áp dụng Chương IX, điều 2, mục 1, khoản 1, điểm 1 cho 03 vết thương vùng đầu kích thước 04cm, 04cm và 04cm, tỷ lệ 03%.
- Áp dụng Chương IX, điều 1, mục 4 cho vết thương vai trái kích thước 04cm, tỷ lệ 01%
Áp dụng phương pháp cộng lùi, tỷ lệ tổn thương cơ thể toàn bộ là 14% (mười bốn phần trăm).
Vật chứng vụ án: 01 (một) dao bằng sắt dài khoảng 35cm, bản rộng khoảng 07cm, đầu nhọn, sống dao hình răng cưa của anh Phạm Văn T2, Nguyễn Thành C tự ý lấy sử dụng gây thương tích cho anh Lý Văn N, Cơ quan điều tra đã trả cho anh T2.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thành C đã bồi thường chi phí điều trị cho anh Lý Văn N số tiền 1.000.000 đồng, anh N không yêu cầu bị cáo C bồi thường bồi thường gì thêm.
Tại cáo trạng số 125/CT-VKSBH-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành C có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 01/11/2013, tại khu vực đường N đoạn thuộc khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành C có hành vi dùng 01 con dao dài khoảng 35cm, bản rộng khoảng 7cm, đầu nhọn, sống dao hình răng cửa chém 03 nhát trúng vùng đầu, 01 nhát trúng cổ tay phải, 01 nhát trúng vùng vai trái và 01 nhát trúng vùng lưng của anh N gây thương tích cho anh N với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.
- Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức lựa chọn những cách xử sự phù hợp, bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí chém vào cơ thể con người sẽ gây ra những thương tích nặng nề, thậm chí có thể dẫn đến tử vong, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của anh Lý Văn N. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Trong vụ án, bị hại anh Lý Văn N cũng có một phần lỗi là dùng tay đấm 01 cái trúng vào mặt C trước khi bị C chém gây thương tích.
- Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và được bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi, bị cáo có đơn được chính quyền địa phương xác nhận thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo C là lao động chính trong gia đình. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về xử lý vật chứng: 01 (một) dao bằng sắt dài khoảng 35cm, bản rộng khoảng 07cm, đầu nhọn, sống dao hình răng cưa của anh Phạm Văn T2, Nguyễn Thành C tự ý lấy sử dụng gây thương tích cho anh Lý Văn N, Cơ quan điều tra đã trả cho anh T2 là đúng quy định.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lý Văn N không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2023.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Thành C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Linh Thu Hồng |
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Bị hại;
- VKSND thành phố Biên Hòa;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Công an thành phố Biên Hòa;
- Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- Lưu.
Bản án số 203/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 203/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Công phạm tội cố ý gây thương tích
