Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 203/2024/HS-ST

Ngày: 22 – 8 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

- Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Huỳnh Hoàng Thuận.

Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 234/2024/TLST-HS ngày 31/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2024/QĐXXST-HS ngày 08/8/2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn P, sinh năm 1977 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi thường trú: Số B H, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Bùi Văn M và bà Dương Thị P1; Có vợ Trương Thị H (đã ly hôn) và có 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Năm 1998 bị Ủy ban nhân dân tỉnh N ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng.
  • Ngày 30/5/2001 bị Công an thị xã N, tỉnh Ninh Bình phạt cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.
  • Bản án số 49/HSST ngày 12/11/2001 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Ngày 17/01/2005 bị Ủy ban nhân dân thị xã N, tỉnh Ninh Bình Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
  • Bản án số 30/2007/HSST ngày 13/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Ngày 27/9/2010 bị Công an phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình xử phạt hành chính 1.500.000 về hành vi Trộm cắp tài sản.
  • Ngày 06/10/2010 bị Công an phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường thời hạn 06 tháng.
  • Bản án số 23/2011/HSST ngày 07/3/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2023 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông Cầm Bá T, sinh năm 1984; Nơi thường trú: thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: 4A/6 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Bàn Thị N, sinh năm 1980; Nơi thường trú: Khu phố H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: 4A/6 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Ông Giang Công D, sinh năm 1972; Nơi thường trú: số B Tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Nơi ở hiện tại: Tổ A, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Phạm Hoàng T1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 16/10/2023, P đi bộ đến trước căn nhà số D khu phố B, phường B, thành phố T thì thấy 01 xe mô tô biển số 61B2-078.78 của ông Cầm Bá T đang để trước nhà, chìa khóa cắm ở xe, P lén lút đến ngồi lên khởi động máy chạy được khoảng 2 - 3m thì bị ông T phát hiện truy hô cùng người dân đuổi theo bắt giữ.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành số T ngày 24/10/2023, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển số 61B2-078.78 trị giá 10.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 214/CT-VKS-TA ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Bùi Văn P tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 16/10/2023, tại trước nhà số D khu phố B, phường B, thành phố T, Bùi Văn P lén lúc lấy 01 xe mô tô biển số 61B2-078.78 trị giá 10.000.000 đồng của ông Cầm Bá T thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý nhằm lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, bị cơ quan Nhà nước xử lý hành chính, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, nơi đông người dân sinh sống, thể hiện bản chất liều lĩnh, xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:

01 xe mô tô biển số 61B2-07878 của ông Cầm Bá T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Bị hại ông T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ thể hiện không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về trách nhiệm hình sự:
  2. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/10/2023.

  3. Về án phí:
  4. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • VKSND TP. Thuận An;
  • Công an, Chi cục THADS TP. Thuận An;
  • Chánh án (để báo cáo);
  • Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • Lưu HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 203/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger