Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 203/2025/DS-ST

Ngày 11 tháng 12 năm 2025

Về tranh chấp chia thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Anh Đoàn và ông Võ Văn Tám.

– Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 chính thức: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2025/TLST-DS, ngày 14/4/2025 tranh chấp dân sự về “chia thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 45/2025/QĐST-DS, ngày 21/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1950. Nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang). (có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Ngô Hiền Â, sinh năm 1978. Nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang). (vắng mặt)
  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Ngô Thị Kiều O, sinh năm 1974. Nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang). (đề nghị vắng mặt)
    2. Ông Ngô Trung L1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp V, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (Nơi cư trú hiện tại: ấp V, phường C, tỉnh An Giang). (đề nghị vắng mặt)
    3. Bà Ngô Thị Ánh N, sinh năm 1980. Nơi cư trú: số nhà B, đường số H, Khu phố A, Phường B, thành phố Hồ Chí Minh (Nơi cư trú hiện tại: số nhà B, đường số H, Khu phố A, Phường B, thành phố Hồ Chí Minh). (đề nghị vắng mặt)
    4. Bà Ngô Thị Ánh L2, sinh năm 1985. Nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang). (có mặt)
    5. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977. Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú: ấp P, xã P, tỉnh An Giang). (đề nghị vắng mặt)
    6. Bà Phạm Thị K, sinh năm 1990; cháu Ngô Ngọc Như Ý, sinh năm 2013; cháu Ngô Ngọc Yến V, sinh năm 2011. Cùng nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (Cùng nơi cư trú hiện tại: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang), do bà Phạm Thị K, sinh năm 1990. Nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang là người giám hộ cho cháu Ngô Ngọc Như Ý và cháu Ngô Ngọc Yến V. (vắng mặt)
    7. Ông Bùi Thanh T1, sinh năm 1967 và bà Ngô Thị T2, sinh năm 1975. Cùng nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (Cùng nơi cư trú hiện tại: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang). (đề nghị vắng mặt)
    8. Ông Bùi Văn K1, sinh năm 1982 và bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1980. Cùng nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (Cùng nơi cư trú hiện tại: ấp H, xã H, tỉnh An Giang). (đề nghị vắng mặt)
    9. Ông Phan Thanh P, sinh năm 1986. Nơi cư trú: khóm A, phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nơi cư trú hiện tại: khóm A, phường N, thành phố Cần Thơ). (đề nghị vắng mặt)
    10. Cháu Phan Quốc H, sinh ngày 19/12/2023. Nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang) do bà Ngô Thị Ánh L2 là mẹ đẻ làm người giám hộ cho cháu Phan Quốc H. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của nguyên đơn bà Bùi Thị L, bị đơn Ngô Hiền  và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2 cùng thống nhất khai:

  1. Bà Bùi Thị L là vợ của ông Ngô Thiện N1, sinh năm 1949 (chết năm 2021), xác định hàng thừa kế của ông N1 gồm có 06 người: bà Bùi Thị L, bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, ông Ngô Hiền Â, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2, ngoài ra không còn ai khác.
  2. Xác nhận tài sản chung của ông N1 và bà L gồm:
    • 01 (một) căn nhà loại N32, móng là nóng xây gạch, sàn pêtông + cốt thép, cột pêtông + cốt thép, vách tường xây gạch, nền lát gạch men, trần bằng tấm nhựa, mái tole và phần hộ có kết cấu xây bó nền, cột gạch, khung thép tiền chế, mái tole gắn liền trên diện tích đất 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m²) thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 15, 16, 17 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002 do UBND huyện P cấp cho ông Ngô Thiện N1 đứng tên.
    • Diện tích đất nông nghiệp 7841,0m², thuộc thửa số 215, tờ bản đồ số 39, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01108, ngày 27/02/2015 do UBND huyện P cấp cho ông Ngô Thiện N1 và bà Bùi Thị L đứng tên. Hiện tại bà L cho ông Nguyễn Văn T thuê trồng lúa theo hợp đồng thỏa thuận miệng với giá cho thuê là 9.000.000 đồng/năm.
    • Diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4344,0m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4270,0m², thửa 403 diện tích 74,0m²) nằm trong diện tích 6667,0m², thửa số 199, tờ bản đồ số 39 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01107, ngày 27/02/2015 do UBND huyện P cấp cho ông Ngô Thiện N1 và bà Bùi Thị L đứng tên. (nhà nước thu hồi diện tích 2323,0m² để thực hiện dự án tuyến tránh đường tỉnh 951 xã P và xã H). Hiện tại phần đất này ông Ngô Hiền  cho ông Nguyễn Văn T thuê trồng lúa.
    • Số tiền do nhà nước bồi thường từ thu hồi một phần đất để thực hiện dự án tuyến tránh đường tỉnh 951 xã P và xã H với số tiền 705.287.000đồng hiện do bà Bùi Thị Lệ G.

Ngoài ra không còn tài sản nào khác.

- Bà Bùi Thị L có yêu cầu tự nguyện nhận số tiền bồi thường 205.287.000đồng, còn số tiền bồi thường 500.000.000 đồng sẽ giao cho con út tên Ngô Hiền  nhận và bà nhận diện tích đất nông nghiệp 7841,0m², cùng với đứa con tên Ngô Thị Ánh L2 nhận phần đất có căn nhà thủ thờ và phần mộ gắn liền với đất, diện tích đất còn lại thì giao cho các con chung tự phân chia.

- Vào ngày 06/5/2025 tại biên bản hòa giải bị đơn ông Ngô Hiền  có lời trình bày cũng đồng ý nhận 01 phần đất từ trụ điện trước nhà thủ thờ ngang đến phần đất ranh đất tiếp giáp với ông Bùi Thanh T1, chiều dài từ trụ điện trước nhà thủ thờ thẳng đến tiếp giáp cái ao, toàn bộ diện tích cái ao và phần đất căn nhà của ông  đang ở; nhận luôn diện tích còn lại là 4.344m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4,270m², thửa 403 diện tích 74m²) do UBND huyện P cấp ngày 27/02/2015 do ông Ngô Thiện N1 và bà Bùi Thị L đứng tên; đồng ý nhận số tiền bồi thường dự án số tiền là 500.000.000 đồng (hiện do bà L đang giữ); Phần đất còn lại thì giao cho bà L hưởng toàn bộ, ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

- Bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1 và bà Ngô Thị Ánh N cùng có yêu cầu được chia diện tích đất ao, Lnk là 555,3m² thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 15, thửa số 16 nằm trong diện tích đất: 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m2) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002 do UBND huyện P cấp cho ông Ngô Thiện N1 đứng tên thể hiện các điểm A, 22, 21, E, D, C, B theo sơ đồ hiện trang khu đất của Văn phong đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025. Đồng ý các phần di sản của bà L, ông  được hưởng nêu trên.

- Bà Bùi Thị L và bà Ngô Thị Ánh L2 có yêu cầu được chia 01 (một) căn nhà loại N32, móng là nóng xây gạch, sàn pêtông cốt thép, cột pêtông cốt thép, vách tường xây gạch, nền lát gạch men, trần bằng tấm nhựa, mái tole và phần mộ có kết cấu xây bó nền, cột gạch, khung thép tiền chế, mái tole (cả nội thất trong căn nhà) và diện tích đất là 496,3m² thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 16, thửa số 17 nằm trong diện tích đất: 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m2) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002 do UBND huyện P cấp cho ông Ngô Thiện N1 đứng tên thể hiện các điểm 51, 52, 43, 53, 22, A theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025. (đối với căn nhà của bà Ngô Thị Kiều O nằm trên phần đất là của bà O không phải di sản phân chia).

3. Các chi phí do đo đạc, chi phí xem xét thẩm định tài sản và định giá tài sản tổng cộng số tiền 8.441.768 đồng, bà Bùi Thị L tự nguyện chịu toàn bộ, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T có lời khai: trước đây ông có thuê phần đất nông nghiệp của bà Bùi Thị L diện tích 7,841m², thuê trồng lúa, nếp theo hợp đồng thỏa thuận miệng với giá cho thuê là 9.000.000 đồng/năm, nhiều năm trước không nhờ chính xác vào năm nào cho đến nay (các bên thoả thuận mỗi vụ lúa, nếp là 3.000.000 đồng/01 vụ mùa, có năm 03 vụ, có năm làm 02 vụ tuỳ theo năm nhà nước cho canh tác bao nhiêu vụ/năm), phần đất hiện nay ông đang trực tiếp canh tác.

Đối với diện tích thửa 199 có diện tích 4,270m², thửa 403 có diện tích 74m² hiện tại 02 phần đất này ông  cho thuê canh tác, thuê trồng lúa, nếp theo hợp đồng thỏa thuận miệng với giá cho thuê là 12.000.000 đồng/năm; bắt đầu vụ 3 năm 2025 đến vụ hè thu năm 2026 là kết thúc, tối đa đưa tiền trước cho anh  số tiền 12.000.000 đồng vào ngày 24/3/2025 xong, phần đất hiện nay ông đang trực tiếp canh tác.

Đối với phần đất thuê của bà L và ông  đã nhận tiền thuê đất trước xong nếu Tòa án giải quyết giao phần đất này cho người khác thì bà L, ông  phải trả lại số tiền tương ứng với các vụ mùa mà ông chưa hết hạn thuê canh tác theo thỏa thuận, còn trường hợp Tòa án giao phần đất cho bà L, ông  tiếp tục sử dụng thì chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện cho đến khi hết thời gian thuê đất và không có yêu cầu gì khác. Có đề nghị Tòa án chấp nhận cho vắng mặt tại phiên họp và các phiên toà xét xử 02 cấp toà án sau này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh T1 và bà Ngô Thị T2 có lời khai: ông bà là cậu thứ 8 của cháu Ngô Hiền Â, căn nhà xây dựng lấn qua với diện tích là 21,8m² tại các điểm G, 40, 39, 38 theo sơ đồ đo hiện trạng khu đất thì ông bà không có yêu cầu xem xét do trước đây ông  có hỏi xây dựng nhà và đối với phần đất chia di sản của ông N1 thì ông bà không có liên quan hay có yêu cầu gì khác. Có đề nghị Tòa án chấp nhận cho vắng mặt tại phiên họp và các phiên toà xét xử 02 cấp toà án sau này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn K1 và bà Lê Thị Mỹ D có lời khai: đối với căn nhà của cháu Ngô Hiền  xây dựng lấn qua với diện tích là 5m² tại các điểm F, 32, 39, 40 theo sơ đồ đo hiện trạng khu đất thì ông bà không có yêu cầu xem xét và đối với phần đất chia di sản của ông N1 thì ông bà không có liên quan hay có yêu cầu gì khác. Có đề nghị Tòa án chấp nhận cho vắng mặt tại phiên họp và các phiên toà xét xử 02 cấp toà án sau này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phan Thanh P có lời khai: ông là con rể của bà L, hiện tại đang chung sống với vợ là Ngô Thị Ánh L2 và đứa con chung trong căn nhà thủ thờ, đối với tranh chấp chia di sản thừa kế của ông N1 thì ông không có liên quan hay có yêu cầu gì khác. Có đề nghị Tòa án chấp nhận cho vắng mặt tại phiên họp và các phiên toà xét xử 02 cấp toà án sau này.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và người tham gia tố tụng nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự: tài sản tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại xã H, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang theo Điều 26 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: yêu cầu của nguyên đơn đối với việc phân chia di sản của ông N1 để lại do ông N1 chết không để lại di chúc nên chia di sản theo pháp luật. Xác nhận tài sản chung của ông N1 và bà L gồm: 01 (một) căn nhà loại N32, móng là nóng xây gạch, sàn pêtông + cốt thép, cột pêtông + cốt thép, vách tường xây gạch, nền lát gạch men, trần bằng tấm nhựa, mái tole và phần hộ có kết cấu xây bó nền, cột gạch, khung thép tiền chế, mái tole gắn liền trên diện tích đất 2393,3m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002; Diện tích đất nông nghiệp 7841,0m², thuộc thửa số 215, tờ bản đồ số 39, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01108, ngày 27/02/2015; Diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4344,0m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4270,0m², thửa 403 diện tích 74,0m²) nằm trong diện tích 6667,0m², thửa số 199, tờ bản đồ số 39 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01107, ngày 27/02/2015 và số tiền do nhà nước bồi thường thu hồi một phần đất là 705.287.000 đồng hiện do bà Bùi Thị Lệ G.

Xác định hàng thừa kế của ông N1 gồm có 06 người: bà Bùi Thị L, bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, ông Ngô Hiền Â, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2, ngoài ra không còn ai khác theo pháp luật quy định tại Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015.

Các đương sự bà Bùi Thị L, bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2 thống nhất được chia:

- Bà Bùi Thị L có yêu cầu số tiền bồi thường 205.287.000đồng và bà nhận diện tích đất nông nghiệp 7841,0m², cùng với đứa con tên Ngô Thị Ánh L2 nhận phần đất có căn nhà thủ thờ và phần mộ.

- Ông Ngô Hiền  nhận 01 phần đất từ trụ điện trước nhà thủ thờ; nhận luôn diện tích còn lại là 4.344m² và số tiền là 500.000.000 đồng.

- Bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1 và bà Ngô Thị Ánh N cùng có yêu cầu được chia diện tích đất ao, Lnk là 555,3m².

- Bà Bùi Thị L và bà Ngô Thị Ánh L2 có yêu cầu được chia 01 (một) căn nhà loại N32 và diện tích đất là 496,3m² thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 16, thửa số 17 nằm trong diện tích đất: 2393,3m².

Từ những phần tích trên căn cứ các Điều 612, 649, 650, 651 và 660 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị L đối với bị đơn ông Ngô Hiền  về việc chia thừa kế tài sản.

- Việc tự nguyện thỏa thuận của các đương sự là phù hợp pháp luật, nhận thấy bị đơn ông Ngô Hiền  không đồng ý, cũng không xét thấy 05 người trong hàng thừa kế đồng ý phân chia phần hưởng này cho ông  tính tổng giá trị ông  hưởng gấp 04 lần khi Tòa án phân chia di sản của ông N1 theo quy định pháp luật là có lợi cho ông  nên ghi nhận sự phân chia tài sản nêu trên.

- Các chi phí đo đạc là 6.441.768 đồng, chi phí xem xét thẩm định tài sản và định giá tài sản là 3.000.000 đồng tổng cộng số tiền 9.441.768 đồng tại phiên tòa bà Bùi Thị L tự nguyện chịu toàn bộ nên đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện bà Bùi Thị L, các đương sự khác không phải chịu.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, riêng bà Bùi Thị Lệ T3 trường hợp người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về hình thức, thủ tục tố tụng:
    1. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chia thừa kế tài sản là nhà ở, đất ở tại xã H, tỉnh An Giang Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 609 và Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    2. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Ngô Hiền Â, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị K cùng là người giám hộ cho cháu Ngô Ngọc Như Ý và cháu Ngô Ngọc Y V được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ tham phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1 và bà Ngô Thị Ánh N, ông Nguyễn Văn T, ông Bùi Thanh T1 và bà Ngô Thị T2, ông Bùi Văn K1 và bà Lê Thị Mỹ D và ông Phan Thanh P đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự HĐXX tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

    1. Về thời hiệu khởi kiện: ông Ngô Thiện N1, sinh năm 1949 (chết năm 2021), không để lại di chúc đến ngày 14 tháng 4 năm 2025 bà Bùi Thị L làm đơn khởi kiện gửi Tòa án để yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Ngô Thiện N1 và không ai yêu cầu áp dụng thời hiệu theo khoản 1 Điều 623 và khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  1. Về nội dung giải quyết vụ án:
    1. Xác nhận tài sản chung của ông N1 và bà L gồm: 01 (một) căn nhà loại N32, móng là nóng xây gạch, sàn pêtông + cốt thép, cột pêtông + cốt thép, vách tường xây gạch, nền lát gạch men, trần bằng tấm nhựa, mái tole và phần hộ có kết cấu xây bó nền, cột gạch, khung thép tiền chế, mái tole gắn liền trên diện tích đất 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m²) thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 15, 16, 17 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002; Diện tích đất nông nghiệp 7841,0m², thuộc thửa số 215, tờ bản đồ số 39, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01108, ngày 27/02/2015; Diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4344,0m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4270,0m², thửa 403 diện tích 74,0m²) nằm trong diện tích 6667,0m², thửa số 199, tờ bản đồ số 39 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01107, ngày 27/02/2015 và số tiền do nhà nước bồi thường từ thu hồi một phần đất là 705.287.000 đồng hiện do bà Bùi Thị Lệ G. Ngoài ra không còn tài sản nào khác phù hợp với lời khai của các đương sự trong hàng thừa kế khai nhận.
    2. Xác định hàng thừa kế của ông N1 gồm có 06 người: bà Bùi Thị L, bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, ông Ngô Hiền Â, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2, ngoài ra không còn ai khác theo pháp luật quy định tại Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015.
    3. Căn cứ kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá đối với các tài sản như sau:
      1. 01 (một) căn nhà loại N32, móng là nóng xây gạch, sàn pêtông + cốt thép, cột pêtông + cốt thép, vách tường xây gạch, nền lát gạch men, trần bằng tấm nhựa, mái tole và phần mộ có kết cấu xây bó nền, cột gạch, khung thép tiền chế, mái tole giá trị định là 261.675.000 đồng.
      2. Giá trị diện tích đất 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m²) là 649.778.600 đồng.
      3. Căn mộ giá trị định là 20.000.000 đồng.
      4. Nội thất trong căn nhà gồm: 01 Tủ thờ, 01 tủ dép, 01 bàn Tnox, 01 bộ bàn, 01 quạt gió, 02 titvi, 01 giá võng, 01 tủ quần áo, 01 tủ mêca, 02 niệm, 01 tủ trang điểm, 01 gường thẻ, 01 tủ kiếng gỗ, 01 máy lạnh, 01 tủ lạnh, 01 bình nóng lạnh, 01 bàn kiếng, 01 bếp từ, 01 tủ chén, 01 tủ gỗ chén, nồi cơm điện, 01 kệ đựng chén, 01 máy giặt giá trị định là 31.950.000 đồng.
      5. Diện tích đất nông nghiệp 7841,0m² x 69.000 đồng = giá trị định là = 541.029.000 đồng.

6. Diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4344,0m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4270,0m², thửa 403 diện tích 74,0m²) x 41.000đồng = giá trị định là = 178.104.000 đồng.

7. Số tiền do nhà nước bồi thường từ thu hồi một phần đất để thực hiện dự án tuyến tránh đường tỉnh 951 xã P và xã H với số tiền 705.287.000đồng hiện do bà Bùi Thị Lệ G.

Tổng giá trị tài sản chung là = 261.675.000 đồng + 649.778.600 đồng + 20.000.000 đồng + 31.950.000 đồng + 541.029.000 đồng + 178.104.000 đồng + 705.287.000đồng = 2.387.823.600 đồng. 1/2 = 1.193.911.800 đồng. 1/6 = 198.985.300 đồng.

Vào năm 2021 ông Ngô Thiện N1 chết, không để lại di chúc nên HĐXX căn cứ vào Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xem xét phân chia di sản thừa kế của ông N1 theo pháp luật. Xác định đối với di sản của ông N1 là 1/2 giá trị di sản chung là 1.193.911.800 đồng, được chia làm 06 phần cho các hàng thừa kế gồm: bà Bùi Thị L, bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, ông Ngô Hiền Â, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2 mỗi phần hưởng giá trị tương đương là 198.985.300 đồng.

Tuy nhiên tại phiên hòa giải đề ngày 06/5/2025 bà L, bà O, bà L2, ông  có mặt đồng ý phần đất từ trụ điện trước nhà thủ thờ ngang đến phần đất ranh đất tiếp giáp với ông Bùi Thanh T1, chiều dài từ trụ điện trước nhà thủ thờ thẳng đến mí nước cái ao và toàn bộ diện tích cái ao và phần đất căn nhà của ông  là thuộc quyền sử dụng của ông Ngô Hiền Â, ông  nhận thêm diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4344,0m² và số tiền bồi thường là 500.000.000 đồng. Phần đất thổ cư còn lại thì bà L hưởng toàn bộ, đất nông nghiệp diện tích 7,841m² và số tiền 205.287.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà Bùi Thị L, bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2 cùng thống nhất phần chia như sau:

  1. Bà Bùi Thị L nhận số tiền bồi thường 205.287.000đồng và diện tích đất nông nghiệp 7841,0m² thể hiện các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 19/6/2025, có tổng giá trị theo định giá là 746.316.000 đồng.
  2. Bà Bùi Thị L và bà Ngô Thị Ánh L2 cùng được chia 01 (một) căn nhà thủ thờ, các nội thất trong căn nhà, phần mộ và diện tích đất thổ cư, ONT+CLN là 496,3m² thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 16, thửa số 17 nằm trong diện tích đất: 2393,3m² thể hiện các điểm 51, 52, 43, 53, 22, A theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025 có tổng giá trị theo định giá là 775.246.300 đồng.
  3. Ông Ngô Hiền  được nhận diện tích đất thổ cư, ONT+CLN và NTS là 980,3m² thể hiện các điểm 4, 51, 52, 43, 53, 28, 40 theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025; diện tích còn lại đất nông nghiệp là 4344m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4270,0m², thửa 403 diện tích 74m²) thể hiện các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 19/6/2025 và số tiền bồi thường dự án số tiền là 500.000.000 đồng (hiện do bà L đang giữ); có tổng giá trị theo định giá là 824.504.000 đồng.
  4. Bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1 và bà Ngô Thị Ánh N cùng yêu cầu được chia diện tích đất ao và LNK là 555,3m² thể hiện các điểm A, 22, 21, E, D, C, B theo sơ đồ hiện trang khu đất của Văn phong đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025 có tổng giá trị theo định giá là 41.757.300 đồng

Việc tự nguyện thỏa thuận của các đương sự là phù hợp pháp luật, nhận thấy bị đơn ông Ngô Hiền  không đồng ý, cũng không tham gia phiên tòa nhưng xét thấy 05 người trong hàng thừa kế đồng ý phân chia phần hưởng này cho ông  tính tổng giá trị hưởng của ông  gấp 04 lần khi Tòa án phân chia di sản của ông N1 theo quy định pháp luật là có lợi cho ông Â; bà L cho rằng khi còn sống thì có sự phân chia rõ ràng cho các con cho xong, bà O, ông L1 và bà Ánh N cũng tự nguyện phần di sản được hưởng chỉ nhận chung phần đất ao, LNK, còn lại thống nhất phân chia cho ông  hưởng nhiều hơn, không yêu cầu ông  trả lại giá trị chệnh lệch hưởng nhiều hơn để sau này các anh em trong gia đình không phải tranh chấp nhưng do ông  không đồng ý chỉ muốn chia cho phần hưởng của ông Â, còn lại giao hết cho bà L đứng tên, sau này bà L chết thì mới chia tiếp mới đồng ý ký tên thỏa thuận, mặc khác bà L cũng không đồng ý do sau này các anh em trong gia đình sẽ phát sinh tranh chấp phân chia 01 lần nữa vì vậy vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận phân chia của các hàng thừa kế nên HĐXX chấp nhận và ghi nhận phần tự nguyện phân chia di sản của 05 người trong hàng thừa kế đối với di sản của ông N1 chết để lại.

    1. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn T việc thuê đất của bà L diện tích đất nông nghiệp 7841,0m²; thuê của ông  diện tích đất nông nghiệp là 4.344m² trường hợp Toà án giao phần đất cho ông Â, bà L tiếp tục sử dụng thì ông sẽ tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc thời gian thuê đất với ông Â, bà L ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì khác nên HĐXX không đặt ra xem xét.
    2. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Văn K1, bà Lê Thị Mỹ D; ông Bùi Thanh T1 và bà Ngô Thị T2 cùng thống nhất trình bày: đối với căn nhà ông  xây lấn chiến qua phần đất của ông bà thì ông bà không có yêu cầu gì đối với ông Â, vẫn đồng ý cho ở tạm trên đất và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không đặt ra xem xét.
    3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phan Thanh P có lời khai: đối với tranh chấp chia di sản thừa kế của ông N1 thì anh không có liên quan hay có yêu cầu gì khác. Bà Phạm Thị K cùng đại diện cho cháu Ngô Ngọc Như Ý và cháu Ngô Ngọc Y V không có ý kiến hay yêu cầu gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  1. Về chi phí tố tụng: Các chi phí đo đạc là 6.441.768 đồng, chi phí xem xét thẩm định tài sản và định giá tài sản là 3.000.000 đồng, tổng cộng số tiền 9.441.768 đồng tại phiên tòa bà Bùi Thị L tự nguyện chịu toàn bộ nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện bà Bùi Thị L, các đương sự khác không phải chịu.
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, riêng bà Bùi Thị Lệ T3 trường hợp người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.
    2. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 85, 147, 227, 228, 244, 271; khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 609, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị L đối với bị đơn ông Ngô Hiền  về tranh chấp “chia thừa kế tài sản”.
  2. Xác nhận hàng thừa kế được quyền hưởng di sản của ông Ngô Thiện N1, sinh năm 1949 (chết năm 2021) có 06 người: bà Bùi Thị L, bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1, ông Ngô Hiền Â, bà Ngô Thị Ánh N và bà Ngô Thị Ánh L2.
  3. Xác nhận tài sản chung của bà Bùi Thị L và ông Ngô Thiện N1 gồm: 01 (một) căn nhà loại N32, móng là nóng xây gạch, sàn pêtông + cốt thép, cột pêtông + cốt thép, vách tường xây gạch, nền lát gạch men, trần bằng tấm nhựa, mái tole và phần hộ có kết cấu xây bó nền, cột gạch, khung thép tiền chế, mái tole gắn liền trên diện tích đất 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m²) thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 15, 16, 17 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002; Diện tích đất nông nghiệp 7841,0m², thuộc thửa số 215, tờ bản đồ số 39, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01108, ngày 27/02/2015; Diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4344,0m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4270,0m², thửa 403 diện tích 74,0m²) nằm trong diện tích 6667,0m², thửa số 199, tờ bản đồ số 39 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01107, ngày 27/02/2015 và số tiền do nhà nước bồi thường từ thu hồi một phần đất là 705.287.000 đồng hiện do bà Bùi Thị Lệ G. Tổng giá trị di sản chung theo định giá là = 2.387.823.600 đồng. 1/2 = 1.193.911.800 đồng, xác định di sản thừa kế của ông Ngô Thiện N1 có giá trị là 1.193.911.800 đồng; giá trị tài sản của bà Bùi Thị L là 1.193.911.800 đồng.
  4. Phân chia phần của hàng thừa kế được quyền hưởng di sản bằng hiện vật và bằng số tiền Việt Nam đồng cụ thể như sau:
    1. Giao cho bà Bùi Thị L được quyền sở hữu diện tích đất nông nghiệp là 7841,0m² thuộc tờ bản đồ số 39, thửa số 215 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01108, ngày 27/02/2015 do UBND huyện P, tỉnh An Giang cấp cho ông Ngô Thiện N1 và bà Bùi Thị L đứng tên, thể hiện tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 19/6/2025 và được nhận số tiền nhà nước bồi thường thu hồi đất là 205.287.000đồng (số tiền hiện do bà Bùi Thị L đang giữ).
    2. Giao cho bà Bùi Thị L và bà Ngô Thị Ánh L2 cùng đồng quyền sở hữu 01 (một) căn nhà loại N32, móng là nóng xây gạch, sàn pêtông + cốt thép, cột pêtông + cốt thép, vách tường xây gạch, nền lát gạch men, trần bằng tấm nhựa, mái tole, mái che; toàn bộ nội thất và phần mộ có kết cấu xây bó nền, cột gạch, khung thép tiền chế, mái tole gắn liền trên đất và diện tích đất là 496,3m² thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 15, thửa số 16, thửa số 16 nằm trong diện tích đất: 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002 do UBND huyện P, tỉnh An Giang cấp cho ông Ngô Thiện N1 đứng tên thể hiện tại các điểm 51, 52, 43, 53, 22, A theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025.
    3. Giao cho bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1 và bà Ngô Thị Ánh N cùng đồng quyền sở hữu diện tích đất là 555,3m² thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 15, thửa số 16, thửa số 16 nằm trong diện tích đất: 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002 do UBND huyện P, tỉnh An Giang cấp cho ông Ngô Thiện N1 đứng tên thể hiện tại các điểm A, 22, 21, E, D, C, B theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025.
    4. Giao cho ông Ngô Hiền  được quyền sở hữu diện tích đất là 980,3m² thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 15, thửa số 16, thửa số 17 nằm trong diện tích đất: 2393,3m² (diện tích biên thu hồi hết 186,7m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02826/lC, ngày 18/02/2002 do UBND huyện P, tỉnh An Giang cấp cho ông Ngô Thiện N1 đứng tên thể hiện tại các điểm 4, 51, 52, 43, 53, 28, 40 theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 08/8/2025.

Giao cho ông Ngô Hiền  được quyền sở hữu diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4344,0m² (gồm 02 thửa: thửa 199 diện tích 4270,0m², thửa 403 diện tích 74,0m²) nằm trong diện tích 6667,0m², thửa số 199, tờ bản đồ số 39 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH01107, ngày 27/02/2015 do UBND huyện P, tỉnh An Giang cấp cho ông Ngô Thiện N1 và bà Bùi Thị L đứng tên thể hiện tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 theo sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh P1 lập ngày 19/6/2025.

Bà Bùi Thị L có nghĩa vụ giao lại cho ông Ngô Hiền  số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng, bằng tiền Việt Nam đồng).

Các đương sự được quyền sở hữu diện tích đất và tài sản trên đất có nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích được chia và sở hữu nhà khi bản án có hiệu lực pháp luật.

(kèm theo Sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phong đăng ký đất đai – chi nhánh P1 lập các ngày 19/6/2025; ngày 08/8/2025 là một bộ phận không tách rời của bản án).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về chi phí tố tụng: bà Bùi Thị L tự nguyện chịu toàn bộ các chi phí tố tụng tổng cộng số tiền 9.441.768 đồng (Bà lệ đã nộp xong).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Bùi Thị L được miễn toàn bộ án phí theo quy định.
    2. Bà Ngô Thị Ánh L2 phải chịu án phí là 19.381.000 đồng.
    3. Bà Ngô Thị Kiều O, ông Ngô Trung L1 và bà Ngô Thị Ánh N cùng phải chịu án phí là 2.088.000 đồng.
    4. Ông Ngô Hiền  phải chịu án phí là 36.735.000 đồng.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSND khu vực 12;
  • -TAND tỉnh An Giang;
  • -THADS tỉnh An Giang;
  • -Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thành Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2025/DS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia thừa kế tài sản

  • Số bản án: 203/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp dân sự về “chia thừa kế tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger