|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG Bản án số: 203/2025/HNGĐ-ST Ngày: 01-12-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Dương Thị Thu Hằng
- Ông Trần Tấn Kiệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: Tổ 1, ấp H, xã K, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: Tổ C, ấp T, xã T, tỉnh An Giang; Căn cước công dân số [...]; ngày cấp: 29/10/2024; nơi cấp: Bộ C1; có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Anh Q, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ 1, ấp H, xã K, tỉnh An Giang; Căn cước công dân số [...]; ngày cấp: 07/8/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 03/6/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Anh Q kết hôn từ năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang vào ngày 18/9/2006. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, chủ yếu là do ông Q thường xuyên ăn nhậu không chí thú làm ăn, chỉ lo ăn chơi, không quan tâm đến cuộc sống của vợ con; mặc dù bà T đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông Q không chịu sửa đổi. Bà và ông Q đã sống ly thân từ hơn 03 năm nay. Bà cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Q.
- Về con chung: bà Thân xác Đ bà và ông Q có 02 người con chung là Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 2006 và Nguyễn Anh K, sinh ngày 24/02/2013. Hiện nay, cháu Y đã thành niên và đang học đại học nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng cháu; cháu K còn nhỏ đang sống cùng với bà T nên bà Thân yêu C được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà Thân xác Đ bà và ông Q không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Anh Q đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Q đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Anh Q và yêu cầu giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Ông Nguyễn Anh Q với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp H, xã K, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang.
Ông Nguyễn Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Anh Q.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông Q kết hôn năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang vào ngày 18/9/2006, được Ủy ban nhân dân xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 85, Quyển số 01, đăng ký ngày 18/9/2006. Do đó, hôn nhân giữa bà T và ông Q là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tuy nhiên, giữa bà T và ông Q không thương yêu nhau, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, sống ly thân, bỏ mặc nhau hơn 03 năm nay là không có tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, bà Thân yêu C được ly hôn với ông Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận.
[3] Về con chung: bà Thân xác Đ bà và ông Q có có 02 người con chung là Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 2006 và Nguyễn Anh K, sinh năm 2013. Bà Thân yêu C được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng cho các con.
Xét thấy, đối với Nguyễn Thị Ngọc Y đã đủ tuổi thành niên và có khả năng tự chăm sóc cho bản thân nên Tòa án không xem xét giải quyết việc nuôi dưỡng đối với cháu; đối với cháu K, từ khi được sinh ra đến nay cháu đã và đang sống cùng với bà T và có cuộc sống ổn định, giữa mẹ, con, chị, em có sự gắn bó thân thiết; cháu K nhận được sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục chu đáo từ bà T; cháu có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha và mẹ ly hôn. Việc tiếp tục giao cháu K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên yêu cầu của bà T được Tòa án chấp nhận.
Bà T có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con và tự nguyện không yêu cầu Tòa án xem xét việc cấp dưỡng cho con nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: bà Thân xác Đ bà và ông Q không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trường hợp các bên có tranh chấp về các mối quan hệ này có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: bà T phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình,
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Ngọc T, cho Bà Nguyễn Thị Ngọc T ly hôn với ông Nguyễn Anh Q.
- Về con chung: giao Nguyễn Anh K, sinh ngày 24/02/2013 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Q không phải cấp dưỡng cho con. Sau khi ly hôn, ông Q có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với Nguyễn Thị Ngọc Y đã đủ tuổi thành niên và có khả năng tự chăm sóc cho bản thân nên Tòa án không xem xét giải quyết việc nuôi dưỡng đối với cháu Y.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết việc chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn do bà T xác định bà và ông Q không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trường hợp các bên có tranh chấp về các mối quan hệ này có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000615, ký hiệu BLTU/25E ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà T không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: bà T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 203/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 203/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Thân và ông Quốc kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn nhưng không thương yêu nhau, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, sống ly thân, bỏ mặc nhau hơn 03 năm nay là không có tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, bà Thân yêu cầu được ly hôn với ông Quốc là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận.
