|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 203/2025/DS-PT Ngày: 24-3-2025 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 và ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn N, sinh năm 1962 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- Bà Trần Thị Bích D, sinh năm 1974 (có mặt-vợ ông T).
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Bà Trần Thị M, sinh năm 1951 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện T, tỉnh Long An. - Bà Trần Thị M, sinh năm 1956 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp D xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Ông Trần Văn S, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1958 (đã chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Đ:- Ông Bùi Văn H, sinh năm 1957 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Ông Bùi Thanh T1, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Ông Bùi Thanh M1, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. - Bà Bùi Thị Hồng M2, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. - Bà Bùi Thị Kim K, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Bùi Văn H, sinh năm 1957 (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Bích D, sinh năm 1974 (có mặt-vợ ông T).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 21/11/2023, ngày 19/8/2024 các văn bản trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N trình bày:
Ông được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/7/1996, thửa đất số 1332, diện tích 4.111m²; Thửa đất số 1392, diện tích 2.496m², cùng tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An. Tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cấp nguyên thửa không đo đạc thực tế. Giáp ranh với thửa đất số 1332, thửa đất số 1392 là thửa đất số 1393, diện tích 1.154m² do ông Trần Văn Đ1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 1291, diện tích 5.307m² do ông Trần Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cả hai thửa đất số 1393 và 1291 đều do ông Trần Văn T đang quản lý sử dụng, canh tác sản xuất. Do ông T lấn ranh nên ông khởi kiện tranh chấp ranh giữa các thửa đất này. Theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 thì ông T lấn chiếm diện tích đất của ông gồm khu C, diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m². Ông T đã làm hàng rào tạm bằng cây tràm không
có giá trị. Ông yêu cầu ông T, bà D phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào tạm, trả lại cho ông khu C diện tích 33,6m² và khu I diện tích 34,3m². Đối với ranh đất giữa thửa đất số 1332 của ông với thửa đất số 1291 ông không tranh chấp, ông rút rút lại yêu cầu khởi kiện này. Ngoài ra, ông không yêu cầu thêm gì. Ông thống nhất với kết quả đo đạc, định giá.
Bị đơn ông Trần Văn T trình bày: Ông thống nhất với M3 trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 và Biên bản định giá tài sản ngày 16/4/2024.
Thửa đất số 1291, diện tích 5.307m² do ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc thửa đất 1291 là của ông Trần Văn Đ1 (cha của ông) để lại cho ông. Giáp ranh với thửa đất số 1291 là thửa đất số 1332 của ông Nguyễn Tấn N. Ông không lấn chiếm đất của ông N. Tại phiên tòa, ông N đã rút lại một phần đơn khởi kiện ranh đất giữa hai thửa đất này nên ông không ý kiến.
Đối với thửa đất số 1393, diện tích 1.154m² do ông là người trực tiếp quản lý sử dụng, canh tác nhưng cha của ông là Trần Văn Đ1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Đ1 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/9/2007. Ông Đ1 được cấp nguyên thửa không đo đạc thực tế. Nguồn gốc đất của ông bà để lại cho ông Đ1. Ông Trần Văn Đ1 chết ngày 13/3/2009; mẹ tên Võ Thị T2 chết vào năm 2010. Ông Đ1, bà T2 không còn cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi, không có con riêng, con nuôi. Ông Đ1 và bà T2 có 05 người con chung gồm: Trần Thị M (sinh năm 1951), Trần Thị M (sinh năm 1956), Trần Văn T, Trần Văn S, Trần Thị Đ (chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Đ gồm: ông Bùi Văn H, ông Bùi Thanh T1, bà Bùi Thị H1, ông Bùi Thanh M1, bà Bùi Thị Hồng M2 và Bùi Thị Kim K. Ông xác định không lấn chiếm đất của ông Ngô N1 lời trình bày của ông N. Ranh đất giữa thửa đất số 1393 của ông Đ1 với thửa đất số 1392 của ông N là một bờ ranh có ranh giới rõ ràng. Ông Đ1 có trồng khoảng 10 gốc tràm lanh dùng làm bờ ranh. Ông Đ1 có trồng một gốc tràm lanh hơn 30 năm. Do cách nay 3 năm ông đã đốn bán. Gốc tràm vẫn còn cũng là ranh giới của hai thửa đất chứ không phải tự mộc như lời trình bày của ông N. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn N.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Tấn N. Bà thống nhất lời trình bày của ông N. Bà không bổ sung thêm gì. Bà thống nhất với M3 trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 và Biên bản định giá tài sản ngày 16/4/2024.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích D trình bày: Bà là vợ của ông Trần Văn T. Từ năm 2007, bà về sống chung với ông T thì bà biết giữa hai thửa đất số 1393 và thửa đất số 1392 có ranh giới rất rõ ràng. Ông Đ1 đã trồng tràm lanh làm ranh đất giữa hai thửa đất. Hiện tại gốc tràm lanh vẫn còn. Bà thống nhất lời trình bày của ông T và không có ý kiến bổ sung thêm gì. Bà thống nhất với M3 trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 và Biên bản định giá tài sản ngày 16/4/2024.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M (sinh năm 1951) trình bày: Bà là con gái ruột của ông Trần Văn Đ1. Lúc sinh thời bà cũng phụ với cha mẹ làm ruộng. Ranh giới giữa thửa đất của ông Đ1 với ông N rất rõ ràng. Cha bà có trồng hàng cây tràm lanh để làm ranh giới. Em trai bà là ông T đã đốn bán, hiện tại vẫn còn lại gốc tràm. Thửa đất số 1393 do ông T đang quản lý sử dụng nhưng do cha tôi còn đứng tên. Bà xác định không ai lấn chiếm đất của ông N. Do bận việc làm ăn, bà xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M (sinh năm 1956) trình bày: Bà là con gái ruột của ông Trần Văn Đ1 và bà Võ Thị Tiểu . Cha mẹ bà sinh được 05 người con: Trần Thị M (sinh năm 1951), Trần Thị M (sinh năm 1956), Trần Văn T, Trần Thị Đ, Trần Văn S. Trần Thị Đ chết còn người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Đ gồm ông Bùi Văn H, ông Bùi Thanh T1, bà Bùi Thị H1, ông Bùi Thanh M1, Bùi Thị Hồng M2, Bùi Thị Kim K. Bà xác định ông Đ1 với T không lấn chiếm đất của ông N. Vì lúc ông Đ1 còn sống thì ông Đ1 quản lý canh tác, ông Đ1 có trồng hàng cây tràm lanh làm ranh đất. Hiện trạng gốc tràm lanh vẫn còn. Bà xác định ông T không lấn chiếm đất nên các anh chị em của bà không đồng ý theo yêu cầu của ông N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn S không có lời trình bày; những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị Đ gồm: ông Bùi Văn H, ông Bùi Thanh T1, bà Bùi Thị H1, ông Bùi Thanh M1, bà Bùi Thị Hồng M2, bà Bùi Thị Kim K không có lời trình bày.Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đã căn cứ các Điều 26, Điều 35, 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Văn T.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn N về việc yêu cầu ông Trần Văn T trả lại diện tích lấn chiếm thuộc một phần thửa đất số 1291.
- Về lệ phí tố tụng: Ông Nguyễn Tấn N phải chịu 10.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá (đã nộp xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tấn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp được miễn án phí.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn N về việc yêu cầu ông Trần Văn T phải trả lại diện tích thuộc khu C diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m² theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn N về việc yêu cầu ông Trần Văn T phải tháo dỡ hàng rào tạm bằng cây tràm trên phần đất lấn chiếm.
Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật
có tranh chấp trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật,
Ngày 10/10/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ mới.
Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N xác định nội dụng kháng cáo và trình bày nội dung kháng cáo: Khu C diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m² theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 là một phần bờ ranh ruộng giữa thửa đất 1332, 1392 của ông và thửa đất 1291 (của ông T), thửa 1393 (ông T đang quản lý sử dụng, do ông Đ1 là cha của ông T đứng tên). Bờ ranh giữa hai phần đất có từ trước khi ông Ngô nhận chuyển nhượng đất. Năm 1995, ông Ngô nhận chuyển nhượng hai thửa đất 1332, 1392 ông T cùng sử dụng bờ ranh làm đường đi thăm ruộng. Trước đây giữa ông và ông Đ1 không có tranh chấp gì về bờ đi cũng như ranh đất. Sau khi ông Đ1 chết, con ông Đ1 là ông T quản lý, sử dụng thửa đất 1393, ông T cho rằng bờ của ông T nên năm 2023 ông T tự ý rào chắn đầu bờ không cho ông N sử dụng nên hai bên phát sinh tranh chấp. Ông N kháng cáo yêu cầu ông T trả lại phần đất tranh chấp gồm khu C, khu I. Ngoài ra ông T không đồng ý chịu chi phí đo đạc, định giá, thẩm định.
Bị đơn ông Trần Văn T trình bày: Ông thống nhất với trình bày của ông Ngô hiện hai bên tranh chấp khu C, khu I là một phần bờ ranh ruộng giữa hai thửa đất thửa đất 1291 (ông T đang đứng tên), thửa 1393 (ông Đ1 là cha của ông T đứng tên), ông đề nghị căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết xác định ranh giới đất giữa hai bên. Trước đây ông T sử dụng thửa 1291, còn thửa 1393 do ông Đ1 sử dụng. Sau khi ông Đ1 chết thì ông T sử dụng thửa 1393 và 1291. Bờ ranh ruộng giữa các thửa thửa đất 1291, 1393 và 1332, 1392 do hai bên cùng sử dụng để đi lại thăm ruộng, nhưng bờ ranh là của gia đình ông nên năm 2023, ông đã dựng cây chắn đầu bờ đi không cho ông N đi lại. Bờ ranh là của ông, ông không đồng ý cho ông Ngô Đ2 nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích D, bà Trần Thị M trình bày: Bà thống nhất với trình bày của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày: Bà thống nhất với trình bày của ông N.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo, quan điểm giải quyết vụ án:
Ngày 26/10/1995, ông Nguyễn Tấn N có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1332 diện tích 4.111m², thửa đất số 1392 diện tích 2.496m², cùng tờ bản đồ số 01, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An. Đến ngày 27/7/1996, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tấn N các thửa đất trên.
Năm 2007, ông Trần Văn Đ1 có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.154m², thửa đất số 1393, loại đất LNK, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 17/9/2007. Ngày 13/3/2009, ông Đ1 chết, thửa đất số 1393 chưa được chia thừa kế và hiện do ông Trần Văn T đang trực tiếp quản lý sử dụng, canh tác sản xuất.
Theo công văn số 568/UBND-NC ngày 26/01/2024 và Công văn số 2688/UBND-NC ngày 10/5/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T thể hiện quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 1392 cho ông Nguyễn Tấn N và thửa đất số 1393 cho ông Trần Văn Đ1 là cấp theo bản đồ địa chính, không đo đạc thực tế.
Theo Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 13/8/2007 trong thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Đ1 thể hiện ông Nguyễn Tấn N đã ký tên xác định ranh.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 thể hiện vị trí tranh chấp khu C có diện tích 33,6m² và khu I có diện tích 34,3m² thuộc một phần thửa 1392 do ông N là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và tại phiên tòa, các đương sự xác định thửa đất số 1332, 1392 và thửa 1291, 1393 hiện trạng là bờ ranh ruộng. Vị trí tranh chấp khu C và khu I là một phần bờ ruộng do gia đình ông N và ông T sử dụng làm bờ đi để thăm ruộng. Hiện trạng thực tế phần đất bên gia đình ông T giáp bờ là mương nước, còn phần đất của ông N là trồng lúa cần phải giữ nước ruộng làm lúa nên ông T cho rằng ông N đã ban bờ là không phù hợp. Ông T cho rằng bờ ruộng là của ông nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông N là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông N; căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N được làm đúng theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa ông N, ông T, bà V, bà D, bà M có mặt. Các đương sự còn lại vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T phải trả lại diện tích thuộc khu C diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m² theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024. Yêu cầu ông Trần Văn T phải tháo dỡ hàng rào tạm bằng cây tràm trên phần đất lấn chiếm.
Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự còn lại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ mới. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, thấy rằng:
[4.1] Về vị trí đất tranh chấp:
Các đương sự tranh chấp phần đất khu C diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m² theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024; hiện trạng là một phần bờ ranh.
[4.2] Về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Ngày 26/10/1995, ông Nguyễn Tấn N có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1332 diện tích 4.111m², thửa đất số 1392 diện tích 2.496m², cùng tờ bản đồ số 01, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An. Đến ngày 27/7/1996, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tấn N các thửa đất nêu trên.
Vào năm 2007, ông Trần Văn Đ1 có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.154m², thửa đất số 1393, loại đất LNK, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 17/9/2007. Ngày 13/3/2009, ông Đ1 chết, thửa đất số 1393 chưa được chia thừa kế và hiện do ông Trần Văn T đang trực tiếp quản lý sử dụng, canh tác sản xuất.
Theo công văn số 568/UBND-NC ngày 26/01/2024 và Công văn số 2688/UBND-NC ngày 10/5/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T thể hiện quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 1392 cho ông Nguyễn Tấn N và thửa đất số 1393 cho ông Trần Văn Đ1 là cấp theo bản đồ địa chính, không đo đạc thực tế.
Theo Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 13/8/2007 trong thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Đ1 thể hiện ông Nguyễn Tấn N đã ký tên giáp ranh xác định ranh giới đất với thửa 1939.
[4.3] Theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 thể hiện: Thửa đất số 1332 và thửa đất số 1392 của ông Nguyễn Tấn N có diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp 6.607m², diện tích đo đạc thực tế là 6.833,1m². Thửa đất số 1393 của ông Đ1 và thửa đất số 1291 của ông T có diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp 6.461m², diện tích đo đạc thực tế của 6.454,4m². Vị trí tranh chấp khu C có diện tích 33,6m² và khu I có diện tích 34,3m² thuộc một phần thửa 1392.
[4.4] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2024, ngày 20/3/2025 thể hiện: Hiện trạng thực tế giáp ranh giữa thửa đất số 1332, 1392 và thửa 1291, 1393 là bờ ranh ruộng. Thửa đất số 1332, 1392 của ông T dùng để trồng lúa; thửa 1393 hiện trạng là vườn. Giáp bờ tranh chấp về phía đất của ông T là mương nước do ông T đang sử dụng. Tại vị trí tranh chấp là một phần bờ ruộng ông N dùng cây rào chắn tại vị trí đầu bờ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự trình bày thống nhất bờ ranh các bên cùng sử dụng từ trước đến nay. Ông T cho rằng, ông N đã ban phần bờ của bên ông N, phần bờ còn lại như hiện nay thuộc quyền sử dụng của ông nên ông rào chắn đầu bờ ruộng không cho ông N tiếp tục sử dụng là không phù hợp với thực tế. Bởi lẽ, phần đất của ông T hiện trạng là ao - vườn, còn phần đất của ông N hiện trạng dùng để trồng lúa nên cần phải giữ nước ruộng để trồng lúa.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 thể hiện khu C có diện tích 33,6m² và khu I có diện tích 34,3m² thuộc một phần thửa 1392 do ông N là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ pháp lý được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của các bên. Mặt khác, thửa đất số 1393 của ông Đ1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là loại đất cây lâu năm. Trong khi đó, phần đất tranh chấp khu C, I thuộc một phần thửa 1392 là loại lúa. Hai loại đất của hai thửa đất này là khác nhau. Ông T cho rằng phần đất tại khu C, I thuộc quyền sử dụng của ông nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, kháng cáo của ông N là có cơ sở chấp nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
[5] Về lệ phí tố tụng đo đạc, định giá, thẩm định tại cấp sơ thẩm 10.000.000 đồng: Sau khi có kết quả đo đạc, ông N đã rút một phần yêu cầu khởi kiện. Do đó, buộc ông Nguyễn Tấn N và ông Trần Văn T mỗi bên phải chịu ½ chi phí với số tiền là 5.000.000 đồng. Ông N đã nộp tạm ứng 10.000.000 đồng nên buộc ông T có nghĩa vụ nộp 5.000.000 đồng để hoàn trả cho ông N.
[6] Về thẩm định tại cấp phúc thẩm 1.300.000 đồng. Nguyễn Tấn N tự nguyện chịu toàn bộ, đã nộp và chi phí xong.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tấn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ông N được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải hoàn tiền tạm ứng án phí cho đương sự. Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Tấn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự; cà Điều 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Văn T đối với khu C diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m².
- Một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An không bị kháng cáo, kháng nghị gồm:
- Về lệ phí tố tụng đo đạc, định giá, thẩm định tại cấp sơ thẩm 10.000.000 đồng: Ông Nguyễn Tấn N và ông Trần Văn T mỗi người phải chịu ½ chi phí với số tiền là 5.000.000 đồng. Ông N đã nộp tạm ứng 10.000.000 đồng nên buộc ông T có nghĩa vụ nộp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để hoàn trả cho ông N.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại cấp phúc thẩm số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Tấn N tự nguyện chịu toàn bộ (ông N đã nộp và chi phí xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Tấn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nguyễn Tấn N được quyền sử dụng phần đất khu C diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m² thuộc một phần thửa 1392, loại đất LUC, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 (hiện do ông N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Buộc ông Trần Văn T, bà Trần Thị Bích D có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, hàng rào tạm bằng cây trên đất để trả lại cho ông Nguyễn Tấn N phần đất khu C diện tích 33,6m², khu I diện tích 34,3m² thuộc một phần thửa 1392, loại đất LUC, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An (hiện do ông N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024.
(Vị trí đất, loại đất, tờ bản đồ, tài sản trên đất theo Mảnh trích đo địa chính số 1739-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và được duyệt ngày 19/8/2024 -kèm theo bản án)
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thực tế sử dụng và kết quả giải quyết của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật về đất đai.
Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để thu hồi, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn N về việc yêu cầu ông Trần Văn T trả lại diện tích lấn chiếm thuộc một phần thửa đất số 1291.
Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Tấn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Hồng Vân |
Bản án số 203/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 203/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn Ng "Tranh chấp quyền sử dụng đất" Trần Văn Th
