Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2024/HS-PT

Ngày 16 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hoàng Vũ.

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ và bà Phan Thị Minh Tâm.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Thiều Thanh Bội Giao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 325/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Thái Văn T và Thái Văn B, do có kháng cáo của bị cáo Thái Văn T và Thái Văn B, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Thái Văn T, sinh ngày 01/01/1972 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim E; vợ là Lê Thị Bích L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt.
  2. Thái Văn B, sinh ngày 01/01/1970 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim E; vợ là Nguyễn Thị N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Thái Văn B: Luật sư Nguyễn Phước H - thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh A.

Bị hại: Ông Lê Thanh V, sinh năm 1972; trú tại: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 08/3/2024, Thái Văn T dọn lục bình để đậu ghe ở dưới sông gần nhà của Lê Thanh V thuộc khu vực ấp B, xã B, huyện C. Trong lúc dọn dẹp giữa V và T xảy ra mâu thuẫn cự cãi thách thức đánh nhau. Tức giận, T đi về nhà nói lại cho anh ruột là Thái Văn B và rủ B đi lại nhà V, khi đi T lấy cây leng bằng kim loại dài 120cm, B lấy đoạn gỗ vuông dài 88cm. Đến nhà V giữa T và V tiếp tục cự cãi, T cầm cây leng trên tay phải xông đến đứng đối diện rồi dùng tay trái đánh vào mặt của V nhiều cái, thấy vậy B cầm đoạn gỗ vuông đánh vào chân phải của V một cái gây thương tích thì được Trần Bình N1 can ngăn nên T và B bỏ đi về. Riêng V được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện C điều trị. Ngày 13/6/2024, Thái Văn T và Thái Văn B bị khởi tố, điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 USB hiệu TOSHIBA; 01 đoạn gỗ vuông dài 88cm; 01 cây leng bằng kim loại dài 120cm.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 222/KLTTCT-TTPY ngày 07/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, ghi nhận: Xây xát da dạng mảng vùng giữa trán, để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (0.4 x 0.3) cm, tỷ lệ 01%; sẹo mặt ngoài sau 1/3 giữa đùi trái, kích thước (6.5 x 0.3) cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ 02 %.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên đối với Lê Thanh V là 03%.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thanh V yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường chi phí điều trị và tổn thất tinh thần tổng cộng 15.000.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HS-ST ngày 28/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Thái Văn T và Thái Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134, Điều 38, Điều 17, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Thái Văn T và Thái Văn B 06 tháng tù. Ngoài ra còn tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/9/2024, các bị cáo Thái Văn T và Thái Văn B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Thái Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên lỡ thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng áo treo để chăm sóc vợ đang bị bệnh.

Bị cáo Thái Văn B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng áo treo với lý do: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, có lỗi với bị hại, bị cáo là trụ cột trong gia đình và có 01 đứa con bị chậm phát triển cần chăm sóc.

Bị hại ông Lê Thanh V: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm do các bị cáo có tính côn đồ, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt tù và cho hưởng án treo của các bị cáo.

Người bào chữa của bị cáo Thái Văn B trình bày: Bị cáo Thái Văn B có 01 đứa con chậm phát triển, bị cáo là lao động chính trong gia đình, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại trong hoàn cảnh khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo B được hưởng áo treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Thái Văn T và bị cáo Thái Văn B, giảm hình phạt cho các bị cáo từ 01 – 02 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Thái Văn T và bị cáo Thái Văn B làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Thái Văn T và bị cáo Thái Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 08/3/2024, tại nhà của bị hại Lê Thanh V thuộc ấp B, xã B, huyện C, bị cáo Thái Văn T đã có hành vi dùng tay trái đánh nhiều cái vào mặt của bị hại V và bị cáo Thái Văn B có hành vi dùng đoạn gỗ vuông dài 88cm đánh vào chân phải của bị hại một cái. Hậu quả làm bị hại V bị thương tật 03% sức khỏe.

Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Thái Văn T và bị cáo Thái Văn B về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu kháng cáo về trách nhiệm hình sự của bị cáo Thái Văn T và bị cáo Thái Văn B, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, giữa bị cáo T và bị hại vì xảy ra mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã có hành vi gây thương tích cho bị hại. Đối với bị cáo T, tuy tỷ lệ thương tật bị cáo gây ra cho bị hại là 03% (trong đó bị cáo trực tiếp gây ra 1%) là không lớn nhưng hành vi của bị cáo có tính côn đồ, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng áo treo nhưng không đưa ra được căn cứ nào mới nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận, giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo T.

Đối với bị cáo B là anh ruột của bị cáo T, tuy không có mâu thuẫn với bị hại nhưng do nghe em mình bị đánh nên tức giận mà gây ra hành vi vi phạm pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo B 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã cố gắng khắc phục bồi thường cho bị hại số tiền 7.500.000đ và cung cấp được xác nhận của địa phương về việc bị cáo có 01 đứa con chậm phát triển cần phải chăm sóc nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ này theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo B có nhiều tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1, khoản 2 Điều 51 nên quyết định áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo B nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Thái Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật, bị cáo Thái Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Thái Văn T; chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Thái Văn B; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Tuyên bố: bị cáo Thái Văn T và bị cáo Thái Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134, Điều 38, Điều 17, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Thái Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134, Điều 38, Điều 17, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Thái Văn B 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Thái Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Bị cáo Thái Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Tiếp tục giữ số tiền khắc phục hậu quả 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Thái Văn B để thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Tp .Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Châu Phú;
  • - Công an huyện Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; Toà HS; HCTР.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoàng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/HS-PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 203/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger