Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 203/2024/DS-ST.

Ngày: 29-11-2024.

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển

nhượng quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Lương Thanh Nhàn.

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 và ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 481/2023/TLST-DS ngày 01/11/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 153/2024/QÐST-DS ngày 04/11/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1986; thường trú tại: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Bình; địa chỉ liên hệ: Số D, đường số I, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

  1. Ông Phan Thúc Đ, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt;
  2. Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt ngày 22/11/2024 và ngày 29/11/2024;
  3. Bà Đỗ Lệ H, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt ngày 22/11/2024 và vắng mặt ngày 29/11/2024.

Là đại diện theo ủy quyền, theo Giấy ủy quyền ngày 21/11/2024.

Cùng địa chỉ liên hệ: Số D, đường số I, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

- Bị đơn: Ông Trần Đức N, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt ngày 22/11/2024 và vắng mặt ngày 29/11/2024.

Đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ liên hệ: Số C, Đại lộ B, khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Là đại diện theo ủy quyền, theo Giấy ủy quyền ngày 30/10/2024. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đặng Thanh H1, sinh năm 1995; địa chỉ: Xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt;
  2. Ông Tạ Quốc Đ1, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Phan Thanh L1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A, tổ D, khu phố E, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Quán D, H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt;
  3. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1995; địa chỉ: Đường số E, Khu dân cư P, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt;
  4. Bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Bùi Văn C và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Do có nhu cầu mua đất ông C được biết đến ông Trần Đức N đang có nhu cầu bán đất nên các ngày 09/4/2021, ngày 13/5/2021, giữa ông C và ông N có ký kết với nhau hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CY 242984, số vào sổ cấp GCN: CS 06803 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/02/2021. Thửa đất này mang tên ông Tạ Quốc Đ1, sinh năm 1989, chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh B cấp ngày 01/6/2013, đã được uỷ quyền uỷ quyền quản lý, sử dụng, định đoạt cho ông Trần Đức N theo Hợp đồng uỷ quyền số 00013100, quyển số 01/2021.TP/CC- SCC/HĐGD ngày 13/5/2021 tại Văn phòng C1. Giá trị chuyển nhượng: 830.000.000 đồng (tám trăm ba mươi triệu đồng). Phương thức thanh toán: Lần 1 (đặt cọc): Ngày 09/4/2021 đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) bằng tiền mặt. Lần 2 (đặt cọc): Ngày 13/5/2021 đặt cọc số tiền 430.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi triệu đồng) bằng tiền mặt. Lần 3: Trong vòng 60 ngày, kể từ ngày 13/5/2021 đến ngày 13/7/2021 hai bên sẽ ra văn phòng công chứng ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ông C sẽ giao toàn bộ số tiền còn lại là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho ông N. Như vậy, ông C đã thanh toán cho ông N tổng số tiền là 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng). Khi ký kết hợp đồng đặc cọc ngày 09/4/2021 (Hợp đồng này do ông Đặng Thanh H1 đại diện bên bán giao kết, ông H1 là người môi giới và đã được sự đồng ý của ông N để ký hợp đồng). Tuy nhiên, từ ngày 13/7/2021 đến nay, ông C đã nhiều lần yêu cầu ông N thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông N không ra để công chứng. Ông N cứ liên tục hứa hẹn, lấy nhiều lý do khác nhau. Ông C cũng liên tục đôn đốc ông N nhưng ông N luôn tìm cách thoái thác, né tránh việc thực hiện nghĩa vụ. Ông N đã vi phạm các Hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 nhưng khi ông C đề nghị ông N trả lại tiền cọc thì ông N không chịu trả và còn dùng nhiều lời lẽ thách thức ông C. Sau này, ông N cũng nhiều lần cam kết thực hiện việc hoàn trả tiền cọc và chịu tiền phạt cọc nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C.

Do đó, ông C làm đơn khởi kiện này, yêu cầu Toà án giải quyết cho ông C những vấn đề:

  1. Tuyên hủy bỏ các Hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 giữa ông C và ông N;
  2. Buộc ông N phải hoàn trả cho ông C số tiền cọc 530.000.000 đồng và ông N phải chịu phạt cọc số tiền 530.000.000 đồng. Tổng số tiền ông C yêu cầu ông N phải trả cho ông C là 1.060.000.000 đồng. Ông C không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.

* Bị đơn ông Trần Đức N và người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Lê Thị L trình bày:

Bà Trần Thị H2 là chị họ của ông N. Bà Nguyễn Thị T1 là bạn của bà H2. Ông N quen bà T1 thông qua bà H2. Bà H2 nói bà T1 tìm người cho khách của bà T1 vay tiền để xuống tiền mua đất nên bà H2 giới thiệu ông N cho bà T1. Khoảng tháng 5/2021, ông N được bà H2 và bà T1 giới thiệu cho ông C. Theo ông N biết là ông C có mua của ông H1 01 mảnh đất thuộc thửa số 291, tờ bản đồ số 16, tại xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, với giá là 830.000.000 đồng. Nhưng ông C chỉ có 430.000.000 đồng nên có họ giới thiệu vay tiền của ông N. Ông N cho ông C vay số tiền 400.000.000 đồng để mua đất của ông H1. Để chắc chắn ông C trả tiền vay cho ông N ông N có yêu cầu bên bán đất ký hợp đồng ủy quyền cho ông N toàn quyền đối với mảnh đất chuyển nhượng. Khi nào ông C trả đủ tiền cho ông N thì ông N sẽ hủy ủy quyền này hoặc ông N ký trả lại cho ông C. Ông C đồng ý việc này nhưng yêu cầu ông N phải ký hợp đồng đặt cọc đối với mảnh đất này cho ông C làm tin nên ông N đồng ý ký hợp đồng đặt cọc này. Theo ông N nhớ hợp đồng đặt cọc này do chính tay bà T1 viết hoặc ông H1 viết. Sau 05 tháng ông N có liên hệ bà T1 yêu cầu được cách thức liên hệ với ông C để yêu cầu ông C trả lại cho ông N số tiền vay 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà T1 chỉ hẹn ngày khác còn ông C không có liên hệ gì với ông N. Đến ngày 11/7/2022 bà T1 liên hệ với ông N qua điện thoại báo rằng ngày 30/7/2022 ông C sẽ trả hết tiền cho ông N. Đến ngày 30/7/2022 ông N không thấy ông C trả tiền nên liên hệ bà T1 hỏi thì bà T1 báo ngày 04/8/2022 ông C sẽ trả. Đến ngày 04/8/2022 bà T1 liên hệ yêu cầu ông N đến Phòng C2 để ký hợp đồng ủy quyền đối với đất này và sẽ trả tiền cho ông N. Lúc này ông N được biết là ông C đã bán lại cho ông H1 và ông H1 cũng đã đặt cọc cho ông C một số tiền. Thời điểm ông C và ông H1 đặt cọc, mua bán thì bà T1 đều chứng kiến. Khi ông N và vợ đến phòng công chứng thì bà T1 xin số điện thoại của ông N cho ông H1. Ông H1 liên hệ với ông N để ký hợp đồng ủy quyền. Sau khi ký xong thì ông H1 thanh toán cho ông N số tiền 400.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản. Sau khi nhận xong tiền thì ông N và vợ ông N về. Việc mua bán, thanh toán tiền giữa ông C và ông H1 như thế nào ông N không biết. Đến ngày 08/8/2022 bà T1 có nhắn tin qua facebook cho ông N hỏi mọi chuyện xong chưa. Ông N có báo với bà T1 là đã xong và ông N đã xé cọc. Đến ngày 04/10/2022 bà T1 và 01 người tự xưng là C gọi cho ông N yêu cầu ông N phải lên Bình Phước để tố cáo ông H1 và sẽ trả ông N 10.000.000 đồng tiền cà phê. Theo ông N biết là do ông C tin tưởng bà T1 và ông H1 nên mới giao đất cho ông H1 và bà T1 đi bán và nhận tiền nhưng ông H1 không trả lại tiền cho ông C. Thời điểm ký các hợp đồng ủy quyền thì ông N hoàn toàn không gặp bên ký còn lại. Ông H1 là người ký vào giấy nhận cọc với tư cách người làm chứng. Theo ông N biết là ông H1 bán đất cho ông C, bà T1 là người môi giới nhận hoa hồng. Ông N hoàn toàn không quen biết ông Phan Thanh L1, thời điểm ký gặp bên ký còn lại, sau khi ông N ký xong ông N nhận được tiền vay thì ông N ra về. Lúc ông N ký hợp đồng thì bên kia chưa ký. Ông N có tính lãi suất 4%/tháng. Tới trước tháng 8/2022, ông N đều nhận tiền lãi thông qua bà T1 chuyển khoản ngân hàng. Mỗi lần ông N nhận tiền lãi từ bà T1 ông N đều yêu cầu bà T1 cho ông N số của ông C để liên lạc nhưng không được, ông C cũng không liên lạc gì với ông N. Trước yêu cầu khởi kiện của ông Công N hoàn toàn không đồng ý. Ông N hoàn toàn không liên quan việc mua bán đất giữa ông C với ông H1 và bà T1. Ông N chỉ cho ông C vay tiền, ông đã nhận đủ tiền cho ông C vay. Ông N không có bán đất cho ông C, không có nhận bất kỳ đồng tiền cọc nào. Hợp đồng đặt cọc này chỉ để làm tin cho việc vay mượn tiền giữa ông N và ông C.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  1. Ông Tạ Quốc Đ1 trình bày: Ông Đ1 không quen biết ông Bùi Văn C, ông Trần Đức N, bà Trần Thị H2, bà Nguyễn Thị T1, bà Hoàng Thị T2, ông Đặng Thanh H1. Vào ngày 13/5/2021, ông Đ1 có ký hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đối với quyền sử dụng đất có diện tích 227,8 m² thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Ấp E, xã M, huyện (nay là thị xã ), tỉnh Bình Phước. Đối với hợp đồng ủy quyền ông Đ1 ký ủy quyền toàn bộ, lý do ký hợp đồng là để bán thửa đất trên, ông Đ1 chuyển nhượng đất trên thông qua ủy quyền, việc ký chuyển nhượng thông qua ủy quyền ông Đ1 cũng không nhớ chính xác ký với ông C hay ông N, việc ai giao tiền cho người nào ông Đ1 cũng không nhớ. Khi ký hợp đồng ủy quyền thì có ông N và ông C tham gia còn có những ai nữa thì ông Đ1 không nhớ. Việc ký hợp đồng ủy quyền thì ông Đ1 có ký cùng lúc nhưng ký với ông N hay ông C thì ông Đ1 không nhớ. Đối với hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Thanh H1 và ông Trần Đức N ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 227,8 m² thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Ấp E, xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước nêu trên cho ông Bùi Văn C vào ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 thì ông Đ1 không có biết. Việc ông C yêu cầu tuyên hủy bỏ các Hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 giữa ông C và ông N; buộc ông N phải hoàn trả cho ông C số tiền cọc 530.000.000 đồng và ông N phải chịu phạt cọc số tiền 530.000.000 đồng thì sự việc này không có liên quan đến ông Đ1 nên ông Đ1 không có ý kiến.
  2. Ông Đặng Thanh H1: Ông H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Toà án thông qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

* Người làm chứng trình bày:

  1. Ông Phan Thanh L1 trình bày: Trước khi biết vụ kiện này thì ông L1 hoàn toàn không biết ông Bùi Văn C, ông Tạ Quốc Đ1, ông Trần Đức N, bà Trần Thị H2, bà Nguyễn Thị T1 và ông Đặng Thanh H1. Thời điểm ông L1 mua đất thông qua hình thức ủy quyền thì ông L1 thông qua trung gian là bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1992. Thời điểm ký hợp đồng ủy quyền đất này ông L1 thấy có rất nhiều người tham gia nhưng không biết ai. Sau này khi ông C liên hệ qua điện thoại báo ông L1 như vậy ông L1 mới tra lại các tài khoản mạng xã hội thì mới biết ông C, ông N, ông H1, những người còn lại ông L1 không biết. Thời điểm ông L1 ký hợp đồng ủy quyền ngày 04/8/2022 với ông N thì ông L1 thấy có ông C, ông H1 tham gia ngoài ông, ông N và bà Hoàng Thị T2, những người còn lại ông L1 không biết. Thời điểm ký hợp đồng ủy quyền ông L1 đến trễ, họ đến trước ký xong ra ngồi bàn ghế đá. Sau khi bà T2 hướng dẫn ông N ký xong thì bà T2 nhắn tin zalo số tài khoản yêu cầu ông L1 chuyển tiền cho bà T2. Sau khi ông L1 chuyển khoản xong. Nhóm ông N, ông H1, ông C và bà T2 kiểm tra nhận được tiền thì đem sổ đỏ đất giao cho ông L1. Sau khi nhận xong sổ đỏ thì ông L1 ra về. Ông L1 mua đất với giá 1.200.000.000 đồng, ông L1 đặt cọc trước 150.000.000 đồng. Đến ngày ký hợp đồng ủy quyền thì ông L1 giao số tiền còn lại 1.050.000.000 đồng. Họ bớt ông L1 5.000.000 đồng tiền làm thủ tục sang tên. Thời điểm ông L1 mua đất thông qua hợp đồng ủy quyền ngày 04/8/2022 thì ông L1 không biết việc ông N ký hợp đồng đặt cọc với ông C đối với phần đất thửa 291, tờ bản đồ số 16, tại xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước và cũng không ai nói ông N biết. Hiện tại ông L1 chưa làm thủ tục sang tên hay sang nhượng thửa 291, tờ bản đồ số 16, tại xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cho ai ông L1 vẫn là người chủ đất. Hiện vẫn để đất trống. Trước yêu cầu khởi kiện của ông C ông L1 không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án cứ xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
  2. Bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà T1 có quen biết với ông Bùi Văn C và ông Trần Đức N, bà Trần Thị H2 và ông Đặng Thanh H1 nhưng chỉ là quen hệ làm ăn, quen biết. Khoảng năm 2020, bà T1 có chỉ cho ông C đến chỗ ông N để vay tiền nhưng bà T1 không rõ nội dung việc giao dịch giữa ông C và ông N, theo bà T1 biết thì ông C đã thanh toán xong cho ông N còn việc thanh toán như thế nào, khi nào thì bà T1 không biết. Bà T1 không biết việc ông Đặng Thanh H1 và ông Trần Đức N có ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021. Việc ông Trần Đức N ký kết hợp đồng ủy quyền ngày 04/8/2022 với ông Phan Thanh L1 bà T1 không được biết. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn C bà T1 không có ý kiến. Việc giao dịch giữa ông C, ông N, ông H1 thì bà T1 không liên quan.
  3. Bà Trần Thị H2 trình bày: Bà H2 không quen biết ông Bùi Văn C và ông Đặng Thanh H1. Ông Trần Đức N là em cô cậu của bà H2. Bà Nguyễn Thị T1 là bạn bè làm ăn quen biết nhau. Về việc mua bán đất giữa ông C và ông N thì thực tế giữa ông C và N không có việc mua bán đất gì hết. Bà T1 làm mua bán đất. Thời điểm đó bà T1 có gọi điện thoại hỏi bà H2 có biết chỗ nào vay tiền không do bà T1 có khách mua đất nhưng không đủ tiền nên cần tìm chỗ vay tiền. Bà H2 biết N có tiền cho vay nên có giới thiệu bà T1 cho ông N. Chuyện cho vay cụ thể giữa N và bà T1 thì bà H2 không nắm được nhưng có nghe nói khi cho vay có ký hợp đồng đặt cọc làm tin. Sau đó bà H2 không biết gì nữa chỉ khi N gọi điện thoại thông báo bị ông C kiện thì bà H2 mới biết có chuyện này. Khi này bà H2 có gọi điện thoại hỏi bà T1 thì bà T1 có nói là ông H1 lừa ôm tiền của ông C chạy mất nên ông C kiện ông N. Ngoài ra, bà H2 không biết gì về việc tranh chấp này hết. Trước yêu cầu khởi kiện của ông C thì bà H2 có ý kiến như sau: Việc kiện của ông C là vô lý vì thực tế chỉ là ông C vay tiền của ông N để mua đất của ông H1, ông C đã trả xong tiền mượn của ông N. Ông N hoàn toàn không liên quan việc mua bán đất giữa ông H1 và ông C. Ông N hoàn toàn không liên quan vụ án này. Ngoài ra đề nghị Tòa án xem xét giải quyết, xét xử vắng mặt bà H2 vì bà H2 không liên quan vụ án.
  4. Bà Hoàng Thị T2 trình bày: Bà T2 là người môi giới việc chuyển nhượng thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Ấp E, xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cho ông Phan Thanh L1. Bà T2 nhận tiền chuyển nhượng từ ông Phan Thanh L1 sau đó chuyển tiền cho người môi giới của ông Trần Đức N là ông Đặng Thanh H1 sau khi ông N và ông L1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, bà T2 không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.

* Tại phiên toà:

- Đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T và bà Đỗ Lệ H trình bày: Ông Bùi Văn C có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện buộc ông N phải chịu phạt cọc số tiền 530.000.000 đồng. Ông Bùi Văn C giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện còn lại là: Tuyên hủy bỏ các Hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 giữa ông C và ông N và buộc ông N phải hoàn trả cho ông C số tiền cọc 530.000.000 đồng mà ông C đã giao cho ông N. Ông C không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.

- Đại diện hợp pháp của bị đơn bà Lê Thị L trình bày: Không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong quá trình tố tụng.

- Bị đơn ông N trình bày: Thống nhất toàn bộ trình bày của bà L và không bổ sung ý kiến gì.

* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:

- Về tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ nên đề nghị không chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp với bị đơn về hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất có diện tích 227,8 m² thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Ấp E, xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CY 242984, số vào sổ cấp GCN: CS 06803 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/02/2021 cho ông Tạ Quốc Đ1. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên hủy bỏ các hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn, buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền đặt cọc nguyên đơn đã giao bị đơn. Bị đơn ông Trần Đức N có địa chỉ nơi cư trú và hiện đang sinh sống tại: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Tạ Quốc Đ1: Ông Tạ Quốc Đ1 vắng mặt nhưng có bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của ông Đ1 không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ1.

- Ông Đặng Thanh H1: Trong quá trình tố tụng Tòa án đã đưa ông Đặng Thanh H1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, theo hồ sơ vụ án, trình bày của các đương sự đều không xác định được địa chỉ thường trú cũng như địa chỉ nơi cư trú hiện tại của ông H1. Theo Giấy biên nhận đặt cọc ngày 09/4/2021 do nguyên đơn cung cấp thì địa chỉ thường trú của ông H1 là tại: Xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Theo kết quả ủy thác thu thập chứng cứ của TAND thành phố Bến Cát đối với TAND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thì ông Đặng Thanh H1 có đăng ký địa chỉ thường trú tại: Xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên nhưng đã đi khỏi địa phương, đi đâu, làm gì không xác định được. Nhận thấy việc tống đạt qua đường bưu điện cũng như niêm yết công khai không đảm bảo cho ông Đặng Thanh H1 nhận được thông tin về việc giải quyết vụ án nên Tòa án đã tiến hành thủ tục triệu tập hợp lệ ông H1 tham gia tố tụng tại Toà án thông qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, ông H1 vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đặng Thanh H1.

[1.3] Về tư cách tham gia tố tụng của ông Phan Thanh L1 và bà Hoàng Thị T2: Ông Phan Thanh L1 là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Ấp E, xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành theo hình thức ký hợp đồng ủy quyền toàn quyền với ông Trần Đức N thông qua người trung gian bà Hoàng Thị Tuyết . Ông L1 trình bày rằng mọi việc chuyển nhượng đều được người môi giới là bà Hoàng Thị T2 hướng dẫn thực hiện cũng như chuyển tiền giao dịch thông qua bà T2 để bà T2 giao lại cho bên chủ sử dụng đất. Hiện ông L1 vẫn quản lý, sử dụng đất này và chưa chuyển nhượng cho người khác. Bà T2 cũng thừa nhận việc môi giới cho ông L1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cũng như bà T2 nhận tiền chuyển nhượng từ ông L1 và chuyển cho ông Đặng Thanh H1. Điều này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nhận thấy, nguyên đơn chỉ tranh chấp với bị đơn yêu cầu hủy các hợp đồng đặt cọc đã ký, yêu cầu lấy lại tiền đặt cọc, không yêu cầu tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không yêu cầu giải quyết đối với quyền sử dụng đất. Do đó, ông Phan Thanh L1 và bà Hoàng Thị T2 không có quyền lợi, nghĩa vụ gì trong vụ án này, việc giải quyết vụ án này không liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L1 và bà T2 nên không cần thiết phải đưa ông L1 và bà T2 vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[1.4] Về việc thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:

Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: Ông Bùi Văn C có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông N phải chịu phạt cọc số tiền 530.000.000 đồng. Ông Bùi Văn C giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện còn lại là: Tuyên hủy bỏ các Hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 giữa ông C và ông N và buộc ông N phải hoàn trả cho ông C số tiền cọc 530.000.000 đồng mà ông C đã giao cho ông N. Ông C không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này. Căn cứ theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Như vậy, phía nguyên đơn tại phiên toà yêu cầu thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó yêu cầu khởi kiện tại phiên toà giảm nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu này. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc ông N phải chịu phạt cọc số tiền 530.000.000 đồng.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy bỏ các Hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 giữa ông C và ông N; buộc ông N phải hoàn trả cho ông C số tiền cọc 530.000.000 đồng. Ông C không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này. Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Giấy biên nhận đặt cọc ngày 09/4/2021 giữa nguyên đơn ông Bùi Văn C và ông Đặng Thanh H1 (bút lục số 22):

Theo nội dung Giấy ngày 09/4/2021 này thì bên bán là ông Đặng Thanh H1 và bên mua là ông Bùi Văn C, theo đó ông H1 cam đoan chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụng đất có diện tích 227,8 m², trong đó có 100 m² đất thổ cư thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Ấp E, xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 06803 ngày 01/02/2021, giá chuyển nhượng là 830.000.000 đồng; phương thức thanh toán: Lần 01 ngày 09/4/2021 thanh toán số tiền 100.000.000 đồng; lần 2 ngày 09/5/2021 thanh toán số tiền 730.000.000 đồng. Bên mua và bên bán đều có ký tên, ghi họ tên và lăn dấu vân tay.

Nguyên đơn ông C và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng do thời điểm ký Giấy đặt cọc ngày 09/4/2021 ông C chưa liên hệ được với ông N và ông H1 là người môi giới được ông N ủy quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông H1 được quyền đại diện ký thay giấy đặt cọc mua bán cũng như ông H1 được quyền nhận thay cho ông N tiền đặt cọc. Sau khi ông H1 nhận thay tiền cọc 100.000.000 đồng theo hình thức đưa tiền mặt từ ông C rồi ông H1 giao lại cho ông N. Bị đơn không đồng ý trình bày này của phía nguyên đơn vì cho rằng thời điểm này bị đơn không quen biết ông H1 và ông C, bị đơn không có ký kết Giấy biên nhận đặt cọc ngày 09/4/2021 này, không có nhận số tiền 100.000.000 đồng từ ông H1 cũng như chưa được nhận ủy quyền đối với quyền sử dụng thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16.

Nhận thấy, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp trình bày nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc ông N có ủy quyền cho ông Đặng Thanh H1 được quyền ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay cho ông N vào ngày 09/4/2021. Đồng thời, nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ông H1 có giao lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng mà ông H1 nhận từ ông C vào ngày 09/4/2021. Bên cạnh đó, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như trình bày của ông Tạ Quốc Đ1 thì đến ngày 13/5/2021 ông Đ1 mới ký hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đối với thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16 này cho ông N. Điều này phù hợp với trình bày của bị đơn ông N. Do đó, tại thời điểm ngày 09/4/2021 thì ông N chưa có quyền sử dụng đối với thửa đất số 291 nên không thể ủy quyền cho ông H1 đại diện giao dịch đối với thửa đất này. Do vậy không có căn cứ xác định ông N có ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 với ông C cũng như ông N có nhận số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng của ông C từ ông H1. Như vậy, Giấy biên nhận đặt cọc ngày 09/4/2021 không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của ông N đối với việc đặt cọc này cũng như số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng.

[2.2] Hợp đồng đặt cọc tiền mua đất (nhà) và tài sản gắn liền với đất (nhà) ngày 13/5/2021 (bút lục số 21) giữa nguyên đơn ông Bùi Văn C và bị đơn ông Trần Đức N:

Theo nội dung của Hợp đồng ngày 13/5/2021 này thì bên bán là ông Trần Đức N và bên mua là ông Bùi Văn C, theo đó ông N cam đoan chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụng đất có diện tích 227,8 m², trong đó có 100 m² đất thổ cư thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Ấp E, xã M, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 06803 ngày 01/02/2021, giá chuyển nhượng là 830.000.000 đồng; phương thức thanh toán: Lần 01 ngày 13/5/2021 thanh toán số tiền 430.000.000 đồng; lần 2 ngày 13/7/2021 thanh toán số tiền 400.000.000 đồng. Bên mua và bên bán đều có ký tên, ghi họ tên và lăn dấu vân tay, ngoài ra có người làm chứng là ông Đặng Thanh H1 cũng ký, ghi họ tên và lăn dấu vân tay vào mục người làm chứng cuối hợp đồng này.

Cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc ký, ghi họ tên và lăn dấu vân tay hợp đồng này. Do đó việc ký kết hợp đồng này giữa nguyên đơn và bị đơn là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tuy nhiên về mặt nội dung của Hợp đồng ngày 13/5/2021 thì nguyên đơn và bị đơn không thống nhất. Nguyên đơn cho rằng Hợp đồng ngày 13/5/2021 là sự tiếp tục của Giấy biên nhận đặt cọc ngày 09/4/2021 để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C và ông N. Tại thời điểm ký Hợp đồng ngày 13/5/2021 thì ông C đã giao cho ông H1 số tiền 430.000.000 đồng và ông H1 đã bàn giao lại số tiền cọc này cho ông N. Bị đơn ông N lại cho rằng thực tế giữa bị đơn và ông C không có việc mua bán đất mà chỉ là quan hệ vay mượn tiền thông qua người môi giới là bà Trần Thị H2 và bà Nguyễn Thị T1. Ông N cho ông C vay số tiền 400.000.000 đồng với mức lãi suất 4%/tháng, để ông C thanh toán tiền mua đất cho ông H1. Để đảm bảo đối với số tiền vay này ông N có yêu cầu bên bán đất ký hợp đồng ủy quyền cho ông N toàn quyền đối với mảnh đất chuyển nhượng giữa ông C và ông H1. Khi nào ông C trả đủ tiền cho ông N thì ông N sẽ hủy ủy quyền này hoặc ông N ký hợp đồng trả lại cho ông C. Ông C đồng ý việc này nhưng yêu cầu ông N phải ký hợp đồng đặt cọc đối với mảnh đất này cho ông C làm tin nên ông N đồng ý ký Hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2021 này. Việc trả tiền lãi được thông qua bà T1 bằng hình thức chuyển khoản, ông N hoàn toàn không liên hệ hay làm việc trực tiếp với ông C. Đến ngày 04/8/2022 bà T1 liên hệ yêu cầu ông N đến Phòng C2 để ký hợp đồng ủy quyền lại đối với thửa đất đất này và sẽ trả tiền cho ông N. Lúc này ông N được biết là ông C đã bán lại đất cho ông H1 và ông H1 cũng đã đặt cọc cho ông C một số tiền. Sau khi ông N ký hợp đồng ủy quyền lại (thực tế là chuyển nhượng) thửa đất này xong thì ông H1 thanh toán cho ông N số tiền vay 400.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản. Ông N hoàn toàn không biết việc mua bán sang nhượng đất giữa ông H1 và ông C.

Xét, theo sự thừa nhận của nguyên đơn và bị đơn thì thời điểm ký hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2021 thì cả nguyên đơn, bị đơn đều có mặt nhưng nguyên đơn ông C không giao tiền trực tiếp cho ông N mà lại giao số tiền đặt cọc 430.000.000 đồng này cho ông H1. Nguyên đơn cho rằng đó là sự thỏa thuận giữa ông N và ông H1 và ông H1 đã chuyển lại số tiền này thông qua chuyển khoản ngân hàng cho ông N. Nguyên đơn cung cấp bản in hình chụp biên lai giao dịch chuyển khoản giữa ông H1 và ông N vào ngày 04/8/2022. Tuy nhiên, theo thời gian của giao dịch chuyển tiền này là ngày 04/8/2022 trong khi thời gian ký hợp đồng đặt cọc giữa ông N và ông C là ngày 13/5/2021. Bên cạnh đó, số tiền chuyển khoản này là 400.000.000 đồng cũng không phù hợp với số tiền đặt cọc theo Hợp đồng ngày 13/5/2021 là 430.000.000 đồng. Nguyên đơn không giải trình được lý do chênh lệch 30.000.000 đồng này. Thêm vào đó, việc chuyển khoản số tiền 400.000.000 đồng từ ông H1 sang ông N phù hợp với trình bày của ông N, ông Phan Thanh L1 về thời gian ký kết hợp đồng ủy quyền giữa ông N và ông L1 ngày 04/8/2022 thì ông N được trả lại số tiền vay 400.000.000 đồng. Ngoài ra, còn có sự mâu thuẫn nội dung giữa Biên nhận đặt cọc ngày 09/4/2021 và Hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2021, theo đó ngày 09/4/2021 thì ông C đã đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng nhưng số tiền này lại không được cấn trừ hay đề cập đến trong Hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2021.

Như vậy, mặc dù thực tế ông N có ký kết Hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2021 với ông C nhưng thực tế không có giao nhận tiền đặt cọc cũng như căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa ông N và ông C hoàn toàn không có quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ là quan hệ vay mượn và quan hệ vay mượn này đã được giải quyết xong, ông N không có yêu cầu gì đối quan hệ vay giữa ông và ông C trong vụ án này.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên Tuyên hủy bỏ các Hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2021 và ngày 13/5/2021 giữa ông C và ông N; buộc ông N phải hoàn trả cho ông C số tiền cọc 530.000.000 đồng. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên thực tế ngày 09/4/2021 ông N không có ký kết Giấy biên nhận đặt cọc ngày 09/4/2021 với ông C, ngày 13/5/2021 ông N có ký kết hợp đồng đặt cọc nhưng chỉ để giả tạo cho hợp đồng vay giữa ông N và ông C còn quan hệ chuyển nhượng là giữa ông C và ông H1 cũng như ông H1 là người trực tiếp nhận tiền đặt cọc. Như vậy, hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn và bị đơn là vô hiệu.

[2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích, hướng dẫn cho đại diện hợp pháp của nguyên đơn về việc khởi kiện bổ sung đối với ông Đặng Thanh H1. Tuy nhiên, phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu khởi kiện đối với ông Trần Đức N. Căn cứ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”. Do đó, Tòa án chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi nguyên đơn khởi kiện bị đơn ông N mà không xem xét giải quyết đối với trách nhiệm của ông Đặng Thanh H1. Do vậy, Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết hậu quả vô hiệu của Hợp đồng đặt cọc tiền mua đất (nhà) và tài sản gắn liền với đất (nhà) ngày 13/5/2021 giữa ông Trần Đức N, ông Bùi Văn C và ông Đặng Thanh H1, trường hợp ông C có tranh chấp với ông H1 về vấn đề này sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[3] Từ những phân tích nêu trên không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn phải chịu theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 93; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 116; Điều 407; Điều 423 và Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn C với bị đơn ông Trần Đức N về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
  2. Tuyên Hợp đồng đặt cọc tiền mua đất (nhà) và tài sản gắn liền với đất (nhà) ngày 13/5/2021 giữa nguyên đơn ông Bùi Văn C và bị đơn ông Trần Đức N vô hiệu.
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn C với bị đơn ông Trần Đức N về việc: “Buộc ông Trần Đức N phải chịu phạt cọc số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng”.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.900.000 đồng (mười hai triệu chín trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001490 ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) B. Nguyên đơn được trả lại số tiền 12.300.000 đồng (mười hai triệu ba trăm nghìn đồng).
  5. Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn phải chịu số tiền 3.055.926 đồng (ba triệu không trăm năm mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi sáu đồng) chi phí tố tụng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, được khấu trừ hết vào số tiền nguyên đơn đã nộp.
  6. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

    Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Văn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 203/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger