Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Án số: 203/2024/HS-ST

Ngày 07 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị An và ông Trần Minh Hải.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 200/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QĐXX-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Tuấn A, sinh ngày 08/10/1990; nơi sinh: Tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ C, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Hữu K và bà Trịnh Thị O; vợ là chị Vũ Thị Hà M và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2024, tạm giam từ ngày 04/8/2024 đến nay; trích xuất có mặt.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Hà M, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ C, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (có mặt).
  • Người chứng kiến:
    • - Ông Tô Văn D, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt);
    • - Anh Đào Văn H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ G, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 29/7/2024, tại khu vực đường N, tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện bị cáo Phạm Tuấn A có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu bị cáo dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của những người chứng kiến, bị cáo tự giác lấy từ túi quần bên trái phía trước đang mặc của bị cáo Phạm Tuấn A ra 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt giao nộp cho tổ công tác, bị cáo Phạm Tuấn A khai nhận đó là ma túy đá, nguồn gốc của túi ma túy là do trước đó khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực cổng bến xe khách thành phố T, bị cáo mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi nhưng không biết tên, địa chỉ giá 300.000 đồng, sau khi mua được ma túy bị cáo Tuấn A cất túi ma tuý vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi xe về nhà thì bị bắt quả tang. Tổ công tác niêm phong vật chứng sau đó yêu cầu bị cáo Tuấn A và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường H, thành phố T để làm việc. Tại trụ sở Công an phường, tổ công tác kiểm tra người Phạm Tuấn A và xe mô tô Biển kiểm soát 17B3-660.41 do bị cáo điều khiển nhưng không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản quản lý, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 1177/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Phạm Tuấn A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2987 gam (Không phẩy hai nghìn chín trăm tám mươi bảy gam)".

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Vũ Thị Hà M trình bày: 01 xe mô tô hiệu Honda, biển kiểm soát 17B3 – 660.41 do chị M mua lại của anh Đỗ Tiến M1, sinh năm 1999, địa chỉ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình từ tháng 5/2024 để chị sử dụng đi lại cho bản thân. Vì bị cáo Tuấn A là người nghiện ma túy nên chị M không nói cho bị cáo Tuấn A biết việc chị mua xe. Ngày 29/7/2024, bị cáo Tuấn A tự ý điều khiển xe mô tô đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân nhưng chị M không biết. Chị M đề nghị Hội đồng xét xử trả xe cho chị để chị sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày.

Tại cơ quan điều tra những người chứng kiến ông Tô Văn D và anh Đào Văn H khai như sau: Khoảng 18 giờ ngày 29/7/2024, tại khu vực đường N, tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, ông D và anh H chứng kiến bị cáo Phạm Tuấn A lấy từ túi quần bên trái phía trước đang mặc của bị cáo Phạm Tuấn A ra 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt giao nộp cho tổ công tác của Công an tỉnh T, bị cáo Phạm Tuấn A khai nhận đó là ma túy đá, sau đó tổ công tác yêu cầu bị cáo Tuấn A và mời ông D, anh H về trụ sở Công an phường H, thành phố T để làm việc. Tổ công tác khám người bị cáo Tuấn A và khám xe mô tô do bị cáo điều khiển nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Cáo trạng số 206/CT - VKSTPTB ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 29/7/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định. Trả lại cho chị Vũ Thị Hà M 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 17B3 – 660.41.
  • - Về án phí: Bị cáo Phạm Tuấn A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Tuấn A xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản Kết luận giám định; Lời khai của người chứng kiến; cùng các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 29/7/2024 tại khu vực đường N, tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang Phạm Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2987 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T bắt quả tang. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo phải nhận thức rõ các tác hại do ma túy gây ra cũng như phải hiểu được các quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành T tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định điểm c tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều 249 quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:a) ...; c)Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”. Theo đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh đã phạm. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét nguyên nhân và điều kiện thực hiện hành vi phạm tội là để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, nên khi áp dụng hình phạt bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của 01 người nam giới không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý người bán ma tuý cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • [7.1] Số ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • [7.2] 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 17B3 – 660.41, cơ quan điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Vũ Thị Hà M. Ngày 29/7/2024, chị M không biết bị cáo Tuấn A điều khiển xe đi mua ma túy. Xét không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nên cần trả lại cho chị M.

[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Tuấn A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Tuấn A có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 29/7/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại Methamphetamine thu của bị cáo Phạm Tuấn A hoàn lại sau giám định và bao gói.
  4. Về tài sản khác: Trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 17B3 – 660.41 cho chị Vũ Thị Hà M, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ C, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  5. Vật chứng và tài sản khác có đặc điểm như ghi tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29/7/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 29/7/2024; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, ngày 18/10/2024.
  6. Án phí: Buộc bị cáo Phạm Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/11/2024.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - VKS tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 203/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger