TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 203/2024/DS-ST
Ngày: 09/8/2024.
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự
mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Dương Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Hiển;
- Ông Mai Minh Chánh.
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 143/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 392/2024/QĐXXST-DS ngày 03/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 474/2024/QĐST-DS ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Bùi Lâm Hoàng T, sinh năm 1981, địa chỉ cư trú: tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1967, địa chỉ cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Theo Giấy ủy quyền ngày 14/6/2024 có công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 1895, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD) (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1984, địa chỉ cư trú: tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:
Nguyên trước đây bị đơn ông Huỳnh Văn T1 có mua thức ăn ếch của nguyên đơn ông Bùi Lâm Hoàng T (cửa hàng K) về để nuôi ếch, ông T1 đã mua thức ăn ếch của ông T nhiều lần, hình thức mua bán lấy hàng hóa là thức ăn trước rồi trả tiền sau, thông qua các chứng từ hóa đơn. Đến tháng 9/2023, hai bên chốt số tiền mà ông T1 mua thức ăn ếch ông T còn nợ tổng cộng là 278.620.000 đồng và lập biên nhận ngày 09/9/2023. Sau đó, ông T1 có đóng lãi hàng tháng trên số tiền nợ cho ông T được 04 lần gồm: tháng 10/2023 đóng 2.230.000 đồng, tháng 11/2023 đóng 2.230.000 đồng, tháng 12/2023 đóng 2.230.000 đồng, tháng 01/2024 đóng 2.300.000 đồng, tổng cộng ông T1 có đóng lãi được 8.990.000 đồng rồi ngưng đóng đến nay chưa trả nợ gốc. Do ông T1 để số tiền nợ gốc đã lâu, đến nay chưa trả nên ông T khởi kiện yêu cầu ông T1 trả số tiền nợ 278.620.000 đồng một lần cho ông T, ông T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ này.
Về số tiền lãi mà ông T1 đã đóng, ông T1 không yêu cầu xem xét, nguyên đơn thống nhất. Về phương án trả nợ, nguyên đơn không đồng ý với phương án xin trả tiền lãi hàng tháng và trả dần tiền nợ gốc của bị đơn trình bày, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu ông T1 trả nợ một lần số tiền nợ 278.620.000 đồng.
Bị đơn ông Huỳnh Văn T1 trình bày như sau: Gia đình ông làm nghề nuôi ếch, trước đây ông có mua thức ăn ếch tại cửa hàng K do ông Bùi Lâm Hoàng T làm chủ nhiều lần, mỗi lần mua vài chục bao, hình thức mua bán là lấy hàng trước, trả tiền sau. Đến vụ mùa tháng 9/2023 do việc nuôi ếch không đạt năng suất, gần đến ngày bán thì chết, thua lỗi nên ông mới không đủ tiền trả cho ông T. Ngày 09/9/2023, ông và ông T chốt sổ với nhau, theo đó tổng số tiền ông còn nợ ông T là 278.620.000 đồng, ông có ký vào giấy nhận nợ với ông T lập ngày 09/9/2023. Do ông khó khăn nên ông T có thoả thuận để cho ông đóng tiền lãi hàng tháng, theo đó mỗi tháng ông đóng lãi cho ông T số tiền khoảng 2.230.000 đồng. Từ ngày chốt số tiền nợ 09/9/2023 đến nay, ông có đóng lãi cho ông T được 04 tháng với tổng số tiền lãi là 8.990.000 đồng, cụ thể tháng 10/2023 đóng 2.230.000 đồng, tháng 11/2023 đóng 2.230.000 đồng, tháng 12/2023 đóng 2.230.000 đồng, tháng 01/2024 đóng 2.300.000 đồng. Tới tháng tiếp theo ông đã chuẩn bị tiền lãi sẵn để đóng cho ông T nhưng ông T không đến nhà lấy và tự khởi kiện ra Tòa. Nay, ông thừa nhận còn nợ ông T tổng số tiền mua thức ăn là 278.620.000 đồng và thống nhất trả nợ cho ông T. Tuy nhiên hiện hoàn cảnh ông đang rất khó khăn, không có khả năng trả một lần số tiền nợ cho ông T, ông đề nghị trả theo phương án là vẫn trả tiền lãi hàng tháng tiếp tục cho ông T theo thỏa thuận là từ khoảng 2.220.000 đồng đến 2.300.000 đồng, còn số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng ông xin trả dần cho đến khi trả hết số tiền nợ. Về số tiền lãi đã
đóng cho ông T, ông không yêu cầu Tòa án xem xét. Ông thống nhất với nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ trên.
Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải nhưng các bên chỉ thống nhất số tiền nợ, nghĩa vụ trả nợ nhưng không thống nhất về phương thức và thời gian trả nợ nên hòa giải không thành.
Tại phiên tòa:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh V trình bày: Nguyên đơn ông Bùi Lâm Hoàng T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn ông Huỳnh Văn T1 có nghĩa vụ trả một lần số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng phát sinh từ việc mua thức ăn ếch và không yêu cầu tính lãi. Bị đơn ông T1 đề nghị phương án và thời gian trả nợ là xin đóng lãi tiếp hàng tháng, còn số tiền nợ gốc thì xin trả từ từ, mỗi một mùa vụ 04 tháng trả một lần 20.000.000 đồng cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc thì nguyên đơn không chấp nhận do số tiền nợ quá lâu.
- Bị đơn ông Huỳnh Văn T1 trình bày: Thừa nhận còn nợ nguyên đơn ông T số tiền 278.620.000 đồng như đại diện nguyên đơn trình bày. Đồng ý trả nợ cho nguyên đơn nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng trả một lần hết số tiền nợ, xin tiếp tục trả tiền lãi hàng tháng như thoả thuận ban đầu với nguyên đơn, còn số tiền nợ gốc thì xin mỗi một mùa vụ 04 tháng trả một lần 20.000.000 đồng, trả dần đến khi hết số tiền nợ. Ông T1 thống nhất việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi và không yêu cầu xem xét lại số tiền lãi mà ông đã đóng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án và nêu quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Việc mua bán thức ăn chăn nuôi ếch giữa ông Bùi Lâm Hoàng T và ông Huỳnh Văn T1 mặc dù là thỏa thuận miệng, không có lập hợp đồng nhưng được hai bên thừa nhận trên thực tế, ông T và ông T1 đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự giao kết hợp đồng nên xác định hai bên có xác lập quan hệ giao dịch trên cơ sở thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, nội dung không vi phạm điều cấm và không trái pháp luật, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại 116; Điều 117; khoản 1 Điều 119; Điều 430 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã giao kết.
Trong quá trình mua bán thức ăn chăn nuôi ếch thì phía ông T là người trực tiếp cung cấp thức ăn chăn nuôi ếch cho phía ông T1 và việc mua bán này có thể hiện bằng Hóa đơn bán hàng ghi nhận số lượng hàng hoá giao nhận và sổ theo dõi ghi nợ của phía ông T ghi tổng số tiền nợ mà ông T1 nợ cho các lần mua hàng và có ký tên
xác nhận của phía ông T1. Việc giao dịch mua bán này thực hiện từ năm 2023. Đến ngày 09/9/2023 hai bên tiến hành làm biên nhận xác nhận số nợ. Ông T1 thừa nhận và ghi họ tên ký xác nhận còn nợ ông T số tiền 278.620.000 đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, ông T1 cũng thống nhất và thừa nhận còn nợ nguyên đơn ông T số tiền nợ 278.620.000 đồng này.
Kể từ sau thời gian làm biên nhận nhận nợ với ông T, ông T1 đã không trả số tiền nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với ông T nên nguyên đơn ông T khởi kiện yêu ông T1 trả số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 430, Điều 440 Bộ luật Dân sự 2015.
Nguyên đơn ông T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với việc bị đơn yêu cầu được tiếp tục trả lãi mỗi tháng số tiền khoảng 2.220.000 đồng đến 2.300.000 đồng, còn số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng xin trả dần đến khi trả hết số tiền nợ nhưng không được phía nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở để xem xét.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Lâm Hoàng T đối với ông Huỳnh Văn T1; Buộc ông Huỳnh Văn T1 phải có trách nhiệm trả cho ông Bùi Lâm Hoàng T số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng.
- Về án phí sơ thẩm: đề nghị buộc ông Huỳnh Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản”. Bị đơn ông Huỳnh Văn T1 có địa chỉ cư trú tại xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là Bộ luật Tố tụng Dân sự).
[1.2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Tại phiên tòa, mặc dù nguyên đơn ông Bùi Lâm Hoàng T vắng mặt nhưng có ông Nguyễn Thanh V là đại diện theo ủy quyền của ông T có mặt (Theo Giấy ủy quyền ngày 14/6/2024 có công chứng tại Văn phòng C, số công
chứng 1895, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD) và bị đơn ông Huỳnh Văn T1 có mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy nguyên đơn ông Bùi Lâm Hoàng T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn T1 có nghĩa vụ trả số tiền mua thức ăn chăn nuôi ếch còn nợ 278.620.000 đồng theo biên nhận ngày 09/9/2023, không yêu cầu tính lãi. Quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn ông Huỳnh Văn T1 thừa nhận có mua thức ăn ếch của ông T nhiều lần và còn nợ lại số tiền tổng cộng 278.620.000 đồng theo biên nhận ngày 09/9/2023 ông có ký tên xác nhận. Nên có cơ sở xác định giữa nguyên đơn ông T với bị đơn ông T1 có xác lập giao dịch mua bán thức ăn chăn nuôi ếch trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận, không vi phạm điều pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 116, 117, 119, 385, 430 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau khi thống nhất số tiền nợ 278.620.000 đồng, hai bên đã thỏa thuận lập biên nhận ngày 09/9/2023 nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Tuy nhiên, tính từ ngày lập biên nhận nợ đến nay, ông T1 vẫn chưa trả đủ số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng cho ông T là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng mua bán, do đó ông T khởi kiện yêu cầu ông T1 trả một lần số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, buộc ông T1 có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 278.620.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 280, Điều 351, Điều 430, Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về yêu cầu tính lãi: Do các bên thống nhất không có yêu cầu tính lãi và không có yêu cầu xem xét về số tiền lãi đã đóng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Đối với ý kiến trình bày của ông T1:
hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả số tiền nợ một lần, xin trả dần số tiền nợ theo phương thức trả lãi hàng tháng như thoả thuận trước đây với ông T là mỗi tháng trả từ 2.230.000 đồng đến 2.300.000 đồng, còn số tiền nợ gốc 278.620.000 đồng xin thời hạn mỗi một vụ mùa 04 tháng sẽ trả một lần 20.000.000 đồng và trả dần đến khi trả hết số tiền nợ nhưng không được đại diện nguyên đơn chấp nhận, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận phương thức xin trả nợ của bị đơn.
[2.3] Do ông T1 bị buộc nghĩa vụ trả tiền cho ông T:
nên căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi
hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
[2.4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú:
về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 9, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Do yêu cầu của nguyên đơn ông T được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.966.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số: 0005756 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
Bị đơn ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.931.000 đồng do yêu cầu của nguyên đơn ông T được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 430, Điều 440 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Điều 9, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Lâm Hoàng T đối với bị đơn ông Huỳnh Văn T1:
Buộc ông Huỳnh Văn T1 có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Lâm Hoàng T số tiền 278.620.000 đồng (Hai trăm bảy mươi tám triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh Văn T1 phải chịu số tiền 13.931.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm ba mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn ông Bùi Lâm Hoàng T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 6.966.000 đồng (Sáu triệu chín trăm sáu mươi sáu ngàn đồng) mà ông T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số: 0005756 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thái Dương Thùy Dung |
Bản án số 203/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản
- Số bản án: 203/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T yêu cầu ông T1 trả tiền mua bán thức ăn chăn nuôi
