|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 203/2024/HNGĐ-ST
Ngày 03-7-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
ông Đặng Văn Tâm;
bà Nguyễn Thị Ly.
- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Trương Thị Ngọc H, sinh năm 1996; nơi cư trú: số 313, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn: ông Nguyễn Bửu L (Nguyễn Bữu L), sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/4/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc H trình bày: bà H chung sống với ông L có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã H cấp chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 110 ngày đăng ký 22/10/2020. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung: Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 25/5/2020.
Sau khi kết hôn với nhau, vợ chồng sinh sống ở nhà của cha mẹ bà H tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019, bà H có thai thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông L chỉ biết quan tâm đến chính mình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Khoảng tháng 10/2022, ông L bỏ đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương không có quan tâm, chăm sóc, hỏi thăm vợ con, thậm chí không có gửi tiền chu cấp cho con. Không những vậy, ông L còn bắt buộc bà H gửi tiền cho ông L. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn ông L, yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng cho con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Tại phiên tòa:
Ý kiến của bà H: bà H giữ nguyên khởi kiện do vợ chồng không còn liên lạc gần 01 năm nay, không còn tình cảm, ông L có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác thông qua hình ảnh ông L nắm tay người con gái khác được ông L đăng trên mạng xã hội zalo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: mâu thuẫn vợ chồng là do ông L có người phụ nữ khác, không quan tâm vợ con, mục đích hôn nhân không đạt, không thể hàn gắn nên bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
Hiện tại, con chung Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 25/5/2020 đang sống chung với bà H. Ông L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến việc nuôi con. Vì vậy, cần ổn định cuộc sống của cháu Thái, tiếp tục giao cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận khởi kiện của bà H về yêu cầu ly hôn ông L; giao cháu Nguyễn Ngọc Th cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:
[1] Bà H có đơn khởi kiện đối với ông L về yêu cầu ly hôn, nuôi con. Ông L có nơi cư trú tại xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà H có mặt; ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bà H và ông L là vợ chồng hợp pháp, được nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, theo lời khai của bà H, hình ảnh chụp màn hình zalo do bà H giao nộp, lời khai của người làm chứng bà Lê Thị Ph do Tòa án thu thập cho thấy vợ chồng bà H, ông L có xảy ra mâu thuẫn, ông L có tình cảm với người phụ nữ khác, không còn quan tâm, yêu thương bà H dẫn đến vợ chồng sống ly thân khoảng 01 năm nay mặc dù đã được hàn gắn nhiều lần. Mặt khác, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L nhằm tạo điều kiện, tổ chức hòa giải tình cảm vợ chồng nhưng ông L không có văn bản ý kiến, vắng mặt không có lý do thì xem như đã bỏ mặc việc tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm.
[3] Như vậy, ông L không quan tâm, yêu thương bà H dẫn đến vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau, không có tình nghĩa vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H yêu cầu ly hôn ông L là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án chấp nhận khởi kiện của bà H về yêu cầu ly hôn ông L.
[4] Khi ly hôn, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con. Theo lời khai của bà H, lời khai của người làm chứng bà Lê Thị Ph thì thấy bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thái, sống ổn định, gắn bó thân thiết với bà H trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Thái được quan tâm, chăm sóc tốt. Mặt khác, ông L không có ý kiến, yêu cầu nuôi con. Như vậy, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con là có căn cứ. Theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà H, giao con Nguyễn Ngọc Th cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Sau khi ly hôn, bà H phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông L thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Bà H không yêu cầu cấp dưỡng cho con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Tòa án không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Về án phí sơ thẩm: bà H phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc H đối với bị đơn ông Nguyễn Bửu L;
Bà Trương Thị Ngọc H được ly hôn ông Nguyễn Bửu L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 110, ngày đăng ký 22/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã H cấp, không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Giao con Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 25/5/2020 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không yêu cầu cấp dưỡng cho con; Ông L không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí sơ thẩm: bà H phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0015383 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
- Bà H có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày tuyên án. Ông L vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tâm Nhân |
Bản án số 203/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 203/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu ly hôn do ông L không quan tâm vợ con
