|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 203/2024/HS-PT Ngày: 15-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nhu.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.
Bà Vũ Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 108/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Trọng L do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2023/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trọng L, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2005 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1973; vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2023 đến nay (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị H - Trợ giúp viên Pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).
- Người bị hại: Anh Nguyễn Chí B, sinh năm 2007.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Như T2, sinh năm 1986 – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Số I, đường N, KP. 4, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
Ngoài ra còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Cẩm H1 và Nguyễn Trọng T3, nhưng không có kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung vụ án:
Nguyễn Trọng L, sinh ngày 15/12/2005 không có giấy phép lái xe theo quy định. Tối ngày 15/01/2023, Nguyễn Trọng L điều khiển xe mô tô biển số 60B4-634.39 chở theo Nguyễn Chí B (sinh ngày 12/01/2007) ngồi phía sau lưu thông trên đường ĐT774B theo hướng P - Quốc lộ B. Lúc 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến km 10+300m đường ĐT774B thuộc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trọng L đã để xe do mình điều khiển lao sang hành lang an toàn đường bộ bên trái theo chiều lưu thông của mình đụng vào 01 cây dù và 02 biển quảng cáo, gây ra vụ tai nạn giao thông. Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Nguyễn Trọng L bị thương tích nhẹ, Nguyễn Chí B bị đứt rời cánh tay và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ.
Qua dấu vết để lại trên mặt đường nhựa, xác định vị trí xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc phần đường bên trái so với chiều lưu thông của xe do Nguyễn Trọng L điều khiển.
Nguyên nhân, lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông: Do Nguyễn Trọng L điều khiển xe mô tô biển số 60B4-634.39 lấn trái, không có giấy phép lái xe.
Hậu quả: Sau khi tai nạn xảy ra anh Nguyễn Chí B được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 2552, 2553/KLTTCT-CB09 ngày 13/4/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C đã kết luận thương tích của anh Nguyễn Chí B: Mỏm cụt 1/3 trên cánh trái: 66%. Sẹo cung mày trái, sẹo nằm dọc mặt ngoài mu bàn chân trái (không được thể hiện trong hồ sơ gửi giám định), không xếp tỷ lệ phần trăm thương tật. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Chí B tại thời điểm giám định là 66%. Tổn thương đã qua xử lý phẫu thuật đoạn 1/3 trên cánh tay trái, không đủ cơ sở xác định chiều hướng hình thành thương tích.
Tại Bản cáo trạng số 122/CT-VKSTP-ĐN ngày 05/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
2. Quyết định của bản án sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2023/HS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đã căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án này đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bà Nguyễn Thị Kim T1, ông Nguyễn Trọng T là đại diện hợp pháp của bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 139.156.278 đồng, được đối trừ số tiền 103.213.000 đồng đại diện hợp pháp của bị cáo đã tự nguyện bồi thường, nay bà Nguyễn Thị Kim T1, ông Nguyễn Trọng T phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền còn lại là 35.943.278 đồng.
Số tiền 83.000.000 đồng đại diện hợp pháp của bị cáo đã nộp, theo Biên lai thu tiền số: 0005507 ngày 06/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại được nhận lại số tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú.
- Dành quyền khởi kiện cho bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại về yêu cầu chi phí lắp cánh tay giả bằng vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3. Kháng cáo:
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Nguyễn Thị L1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Trọng L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng quy định pháp luật. Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo tù là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đủ răn đe dối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận những khoản chi phí hợp lý, buộc bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Nguyễn Trọng T là đại diện hợp pháp của bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 139.156.278 đồng là phù hợp quy định, đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu nào khác. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5. Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét hết tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét xử không có căn cứ pháp luật. Bị cáo không có giấy phép lái xe, có nồng độ cồn, gây thiệt hại 66% sức khỏe cho bị hại, tại thời điểm gây tai nạn cơ quan công an không kiểm tra nồng độ cồn của bị cáo là thiếu sót. Số tiền 250.000.000đồng bị hại yêu cầu bồi thường cho một cánh tay bị mất là không lớn, các khoản yêu cầu bồi thường là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại.
6. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai. Bản án sơ thẩm đã xét xử khách quan, áp dụng pháp luật đầy đủ. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tội danh: Vào lúc 21 giờ 35 phút, ngày 15/01/2023, tại km 10+300m đường ĐT774B thuộc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trọng L điều khiển xe mô tô biển số 60B4-634.39 chở theo Nguyễn Chí B ngồi phía sau do đi không đúng phần đường quy định, không có giấy phép lái xe nên gây tai nạn giao thông làm Nguyễn Chí B bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 66%.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật.
[2] Về kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn công cộng, gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác, gây đau thương, tổn thất cho gia đình người bị hại. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét tình tiết tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và nhân thân của bị cáo, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 02 năm tù là phù hợp.
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là người chưa thành niên phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
[3.1] Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường tiền xe đi lại cho bị hại, người nhà bị hại là 11 lần x 2.000.000 đồng = 22.000.000 đồng; tiền viện phí, tiền tái khám là 15.483.000 đồng; tiền thuốc điều trị là 20.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, giảm sút là 10.000.000 đồng; tiền ăn uống cho người chăm sóc tại bệnh viện là 02 người x 08 ngày x 150.000 đồng = 2.400.000 đồng; Chi phí lắp cánh tay giả là 250.000.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất, giảm sút của người bị thiệt hại là 03 tháng x 6.000.000 đồng = 18.000.000 đồng; Tai nạn cụt hoàn toàn cánh tay của bị hại không thể lao động như người bình thường, chủ lao động không tuyển dụng do đó yêu cầu bồi thường số tiền bị mất, giảm sút phải bồi thường hàng tháng là 5.000.000 đồng tính từ tháng 5/2023 đến khi bị hại 60 tuổi; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại là 03 tháng, thành tiền 03 tháng x 6.000.000 đồng = 18.000.000 đồng; T4 bù đắp tổn thất tinh thần là 90.000.000 đồng. Tổng cộng là 445.883.000 đồng và số tiền bị mất, giảm sút mà bị cáo phải bồi thường hàng tháng là 5.000.000 đồng tính từ tháng 5/2023 cho đến khi bị hại Nguyễn Chí B đủ 60 tuổi.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận các khoản:
- - Tiền viện phí, tiền thuốc khám chữa bệnh cho bị hại: 16.156.278 đồng.
- - Tiền xe đi lại của người nhà bị hại trong quá trình điều trị, tái khám: 10.000.000 đồng.
- - Tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, giảm sút của bị hại: 5.000.000 đồng.
- - Tiền thu nhập thực tế bị mất, giảm sút của người hại: 18.000.000 đồng.
- - Tiền thu nhập thực tế bị mất, giảm sút của người chăm sóc bị hại: 18.000.000 đồng.
- - Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 72.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền 139.156.278 đồng, không chấp nhận các khoản tiền ăn uống cho người chăm sóc tại bệnh viện 2.400.000 đồng, tiền thu nhập bị mất, giảm sút của bị hại từ tháng 5/2023 đến khi bị hại 60 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 20.213.000 đồng, bị cáo Nguyễn Trọng L là người điều khiển xe trực tiếp gây ra tai nạn nhưng tính đến thời điểm gây tai nạn thì bị cáo chưa thành niên và hiện nay không có tài sản riêng nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc cha mẹ của bị cáo là ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị Kim T1 có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại 118.943.278 đồng cho bị hại là phù hợp. Vì vậy, cũng không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại về phần này, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3.2] Đối với yêu cầu bồi thường chi phí lắp cánh tay giả cho bị hại: Đây là chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật, nhưng hiện tại việc này chưa được thực hiện. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại cũng như đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên họ có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[4] Về án phí: Người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết lại.
[6] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
[7] Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không phù hợp nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại bà Nguyễn Thị L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 585, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án này đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Nguyễn Trọng T phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Chí B số tiền 139.156.278 đồng. Khấu trừ số tiền 20.213.000 đồng đã bồi thường, bà Nguyễn Thị Kim T1 và ông Nguyễn Trọng T còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Nguyễn Chí B số tiền là 118.943.278đ (Một trăm mười tám triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi tám đồng).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 83.000.000đ (Tám mươi ba triệu đồng) đại diện hợp pháp của bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số: 0005507 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).
3. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị L1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Nhu |
Bản án số 203/2024/HS-PT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 203/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại bà Nguyễn Thị Lệ, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Lợi 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
