|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 203/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07-6-2024
Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con chung
giữa chị Đặng Phương Trinh và anh
Trần Tuấn Nhật
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Anh Tuấn
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 ngày 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Phương T, sinh năm 1999; địa chỉ đăng ký thường trú và nơi cư trú: số H đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Trần Tuấn N, sinh năm 1996; địa chỉ đăng ký thường trú và nơi cư trú: số B đường M, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa chị T có mặt; anh N vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 22-4-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Đặng Phương T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Tuấn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào tháng 5 năm 2017 nhưng đến tháng 11 năm 2017 hai bên mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do cuộc sống chung nảy sinh nhiều bất đồng, hai bên không hòa hợp, khác biệt nhau về quan điểm và tính cách thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Bản thân anh N ham chơi, không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng đều không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên chung sống không có tình cảm, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Chị T đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 8 năm 2021, và vợ chồng ly thân nhau từ thời điểm đó cho đến nay. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục hàn gắn được nữa, nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Tuấn N.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần Tuấn T1, giới tính: Nam, sinh ngày 31-12-2017. Chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Trần Tuấn T1 và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung về tài sản của vợ chồng: chị Đặng Phương T xác định vợ chồng không có về tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn là anh Trần Tuấn N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh N không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không tham gia phiên tòa nên anh N không có lời khai thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án
3. Tại đơn đề nghị ngày 22-4-2024 của chị Đặng Phương T có xác nhận của địa phương: chị T và anh N kết hôn ngày 20-11-2017 tại UBND phường N, thành phố N. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống nảy sinh nhiều bất đồng, vợ chồng không hòa hợp nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm. Hai bên đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng đều không có kết quả nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở số H đường N, phường T, thành phố N sinh sống. Chị T và anh N có 01 con chung là Trần Tuấn T1, sinh ngày 31-12-2017, giới tính: Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Tuấn N là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Tuấn N.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Phương T và anh Trần Tuấn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N ngày 20 tháng 11 năm 2017 nên hôn nhân giữa chị T và anh N là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên không hòa hợp, khác biệt nhau về lối sống và tính cách. Theo chị T trình bày thì anh N ham chơi, không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng đều không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên chung sống không có tình cảm, không có sự tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng ly thân nhau từ tháng 8 năm 2021 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tạo điều kiện để hai bên giải quyết mâu thuẫn, vợ chồng về chung sống đoàn tụ nhưng anh N không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh N.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đặng Phương T và anh Trần Tuấn N mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Đặng Phương T và anh Trần Tuấn N.
[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Tuấn T1, giới tính: Nam, sinh ngày 31-12-2017. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Tuấn T1 và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, anh N không có lời khai thể hiện quan điểm về việc giao nuôi con chung, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là cháu Trần Tuấn T1, hiện nay cháu T1 cũng đang ở và sinh sống ổn định với mẹ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Đặng Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Tuấn T1, sinh ngày 31-12-2017.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Đặng Phương T không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Đặng Phương T là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đặng Phương T và anh Trần Tuấn N.
- Về con chung: Giao cho chị Đặng Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Tuấn T1, giới tính: Nam, sinh ngày 31-12-2017.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Trần Tuấn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Chị Đặng Phương T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Đặng Phương T đã nộp tại biên lai số 0002080 ngày 23-4-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
- Quyền kháng cáo: Chị Đặng Phương T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trần Tuấn N có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì anh N và chị T có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 203/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 203/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
