Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC

VIỆT NAM

Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2024/HN&GD-ST

Ngày 05/12/2024.

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hải

Bà Đoàn Thị Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 18/11/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 46/2024/QĐST - HNGĐ ngày 28/11/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1995

Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1992

Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị O – Chị O có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Văn D vắng mặt lần hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2024, biên bản ghi lại lời khai ngày 31/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn D tự nguyện yêu thương và tiến tới hôn nhân vào năm 2022, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện H cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/5/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc được hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, anh D không chịu khó làm ăn, chị có khuyên nhủ nhưng anh D không nghe vợ chồng lại sảy ra cãi vã. Những lúc cãi vã anh D có những hành động chửi bới, xúc phạm đến chị. Gia đình hai bên cũng đã can thiệp hoà giải nhưng không thành, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị O xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được nên chị có thông báo cho anh D để vợ chồng thoả thuận ly hôn nhưng anh D không đồng ý ly hôn cũng không muốn đoàn tụ mà gây khó khăn. Vì vậy chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn D.

Về con: Vợ chồng không có con chung, hiện tại chị cũng không có thai nghén gì nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản và công nợ: Vợ chồng không có tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 12/11/2024 của anh Phạm Văn D thể hiện:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị O kết hôn với nhau theo sự tự nguyện của hai bên, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N vào năm 2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 8/2024 thì chị O tự ý bỏ đi không thông báo gì với gia đình. Anh có nói chuyện động viên cho chị O quay về nhưng chị O không về và có nói với anh làm đơn ly hôn. Nguyên nhân như thế nào thì anh không biết. Nay chị O làm đơn ly hôn, chị O muốn làm gì thì kệ chị O anh không đồng ý ly hôn cũng không muốn đoàn tụ.

Về con: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và công nợ: Vợ chồng không có tài sản và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập nhiều lần anh Phạm Văn D đến Toà án để giải quyết việc ly hôn với chị O, mặc dù anh D đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh D vắng mặt không có lý do. Chị Nguyễn Thị O có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được.

Ngày 12/11/2024, Toà án đã xác minh tại gia đình anh Phạm Văn D và trưởng thôn T, xã N. Tại thời điểm xác minh anh Phạm Văn D đang có mặt tại địa phương, anh D đã giao nộp cho Toà án bản tự khai của mình nhưng cố tình không đến Toà án giải quyết.

Tại phiên toà lần hai anh D vắng mặt không có lý do, các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà nên Chủ toạ phiên toà công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Chủ toạ phiên toà nêu tóm tắt vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về vấn đề giải quyết xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị O.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Phạm Văn D.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị O khởi kiện ly hôn anh Phạm Văn D có nơi cư trú tại thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

Xét việc vắng mặt của bị đơn: Theo kết quả xác minh tại gia đình và địa phương cho biết: Anh Phạm Văn D có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã N, huyện H. Anh Dũng đang có mặt tại địa phương, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 174, khoản 2 Điều 175, khoản 5 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự, anh D đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa án làm việc là không tuân thủ quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà lần thứ hai nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và Anh Phạm Văn D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã N, huyện H cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào năm 2022. Như vậy hôn nhân giữa chị O và anh D là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn D kết hôn với nhau năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận được hơn một năm thì sảy ra mâu thuẫn, tháng 8/2024 vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm. Anh Dũng chơi bời không chịu khó làm ăn, chị O có khuyên nhủ nhưng không được mà còn sảy ra cãi cã, xúc phạm nhau. Gia đình hai bên đã hoà giải nhưng không thành. Anh Phạm Văn D xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì và anh không đồng ý ly hôn, mặc kệ chị O muốn làm gì thì làm, anh D cũng không muốn đoàn tụ chứng tỏ rằng anh D không còn coi trọng cuộc hôn nhân với chị O, cố tình gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Điều này chứng minh tình cảm giữa chị O và anh D không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với tình trạng hôn nhân và quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn D xác đinh vợ chồng không có con chung, hiện tại chị O cũng không có thai nghén gì nên không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[4]. Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn D không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét.

[5].Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Vắng mặt chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn D.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị O.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Phạm Văn D.
  2. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị O phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị O đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003266 ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. Chị O đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

THẨM

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • phiên tòa
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Hậu Lộc
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - UBND xã Ngư Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

Thẩm phán - Chủ tọa

Lường Thị Hoa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Văn Hải Đoàn Thị Dung Lường Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/HN&GD-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 203/2024/HN&GD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger