Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 203/2025/HSST

Ngày: 08-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Hữu Cường;
  2. Bà Nguyễn Thị Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Trà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Nguyễn Công Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 271/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thu H, sinh ngày 03/10/1972, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số B, khu phố A, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (chết) và bà Nguyễn Thị N; chưa có chồng con; tiền án: Ngày 23/6/2009 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 111/2009/HSST (đã nộp án phí hình sự sơ thẩm; chấp hành xong hình phạt ngày 04/9/2011; phạt tiền 10.000.000 đồng, đã nộp 530.000 đồng, còn lại 9.475.000 đồng chưa nộp nên chưa xoá án tích), ngày 12/01/2012 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 16/2012/HSST (chấp hành xong hình phạt ngày 13/10/2013; chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm; chưa nộp tiền phạt 5.000.000 đồng nên chưa xoá án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/12/1993 bị Công an huyện N bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” không rõ hình thức xử lý, ngày 31/12/1998 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số 503/HS (đã xoá án tích), ngày 25/02/2000 bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số 05/HS-ST (đã xoá án tích), ngày 25/10/2005 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 145/2005/HSST (đã xoá án tích), ngày 09/8/2007 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 132/2007/HSST (chưa nộp tiền án phí 50.000 đồng và tiền phạt 5.000.000 đồng, nhưng được miễn phạt tiền và án phí theo quyết định số 03/2014/QĐ-MTHA ngày 22/01/2014 của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè. Chấp hành xong ngày 04/7/2008, đã xoá án tích), ngày 10/5/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 109/2016/HSST (đã xoá án tích); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2025 tại Trại tạm giam C - Công an Thành phố H Phân trại tạm giam Bình Thới (cơ sở 1). (có mặt)

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm: 2004;

Địa chỉ: Số B khu phố G, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Hồ Thị Kim T1, sinh năm: 1970;
  • Địa chỉ: Số D L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  • - Bà Bùi Thị T2, sinh năm: 1994;
  • Địa chỉ: Số A H, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 23/6/2025, Nguyễn Thu H đón xe buýt đi từ nhà đến Bệnh viện M số 280 Đ, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh để khám bệnh. H vào bệnh viện ngồi chờ khám bệnh, nhưng do người đến khám bệnh đông nên H đi bộ ra trước cổng bệnh viện ở đường N Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, H thấy bà Nguyễn Thị Cẩm T đang đi bộ từ trong bệnh viện đi ra, phát hiện bà T để lộ chiếc điện thoại di động ra ngoài từ túi áo khoác, nên H nãy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của bà T. Lúc này, H quan sát thấy không ai để ý, đi bộ lại đứng đối diện áp sát vào người bà T, dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại di động của bà T để trong túi áo khoác, lấy xong H ra trạm xe buýt đón xe đi về. Khi về đến nhà, H mở xem là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro, nên đi bộ qua nhà gặp bà Hồ Thị Kim T1 mượn chiếc xe máy hiệu Honda Vision, biển số: 59U1-991.30 đi công việc. H chạy xe đến cửa hàng điện thoại số A H, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh gặp bà Bùi Thị T2 đưa chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro vừa trộm được nhờ mở khoá điện thoại. Khi bà T2 vừa cầm điện thoại thì có cuộc gọi đến nên bà T2 đã đưa lại chiếc điện thoại cho H để nhận cuộc gọi. Do sợ bị phát hiện nên H cầm điện thoại ra xe đi về nhà. Cùng ngày, Công an phường X đến mời H về trụ sở làm rõ sự việc. (Bút lục: 79-111).

Đồng thời, khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày bà T phát hiện chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 pro để trong túi áo khoác bị kẻ gian lấy trộm mất. Bà T đã đến Công an phường X trình báo sự việc. (Bút lục: 47).

Theo kết luận định giá tài sản số: 4345/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự cấp thành phố, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 pro dung lượng 128gb (đã qua sử dụng), trị giá: 15.283.333 đồng (Bút lục: 47-50)

Quá trình điều tra, H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKSKV1 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết khác của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên đề nghị miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại iphone 15 pro, đã thu hồi trả lại bà T. Bà T không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại dân sự nên không xét.
  • - 01 điện thoại di động hiệu S A53, đã trả lại bà T1.
  • - 01 xe máy hiệu Honda Vision, biển số: 59U1-991.30, đã trả lại bà N1.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 (đã qua sử dụng), cần trả lại bị cáo.
  • - 01 áo tay dài màu trắng đen có hoa văn, 01 quần dài màu đen có hoa văn, 01 áo khoác jean tay dài màu xanh (trang phục mà bị cáo đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội) và 01 nón bảo hiểm màu đen, cần tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) là không oan sai. Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Đối với người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, do đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và được thu thập hợp pháp nên việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về vấn đề này. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng, không ảnh hưởng đến việc xét xử; lời khai của họ đã được thu thập trong quá trình điều tra. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định pháp luật.

[3] Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, gồm: biên bản khám xét, kết luận định giá tài sản, biên bản nhận dạng, hình ảnh, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, bản tường trình, biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu...

Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/6/2025, tại Bệnh viện M Đ, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh, lợi dụng lúc bà Nguyễn Thị Cẩm T không để ý, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 pro, trị giá 15.283.333 đồng. Qua công tác truy xét, bị cáo bị bắt giữ cùng tang vật.

Với các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với quyết tâm cao, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân rất xấu 07 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật thuộc trường hợp định khung là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).

[7] Xét về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025), người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có điều kiện để thi hành án. Đồng thời căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Xét thấy, việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo để đưa ra xét xử và đề nghị mức hình phạt là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[9] Xét về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 điện thoại iphone 15 pro, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trả lại cho bà T. Bà T không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án này. (Bút lục: 55)
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 (đã qua sử dụng), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại bà T1 là chủ sở hữu nên không xét. (Bút lục: 57)
  • - Đối với 01 xe máy hiệu Honda Vision, biển số: 59U1-991.30, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ. Qua xác minh xe do bà Đặng Hồ Bảo N1, sinh năm 1994, cư trú số D L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Bà N1 tường trình xe mua năm 2022 và cho dì ruột bà Hồ Thị Kim T1 mượn xe làm phương tiện đi lại, bà T1 không biết bị cáo H mượn xe để đi mở khoá điện thoại do phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả xe trên cho bà Đặng Hồ Bảo N1, nên không xét. (Bút lục: 56).
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 thu giữ của bị cáo: Xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến vụ án, cần trả lại bị cáo.
  • - Đối với 01 áo tay dài màu trắng đen có hoa văn, 01 quần dài màu đen có hoa văn, 01 áo khoác jean tay dài màu xanh (trang phục mà bị cáo đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội) và 01 nón bảo hiểm màu đen, thu giữ của bị cáo: Xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, bị cáo không nhận lại và xét thấy các vật này không còn giá trị sử dụng, nên cần tiến hành tiêu huỷ.

[10] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[11] Xét về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2025.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • + Trả lại bị cáo Nguyễn Thu H 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A53 (đã qua sử dụng).
  • + Tiêu hủy 01 (một) áo tay dài màu trắng đen có hoa văn, 01 (một) quần dài màu đen có hoa văn, 01 (một) áo khoác jean tay dài màu xanh (trang phục mà bị cáo đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội) và 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.
  • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)
  • - Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2022) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2022).

Bị cáo Nguyễn Thu H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND khu vực 1, Tp. HCM;
  • - Phòng THADS khu vực 1, Tp. HCM;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa - Phân trại
  • tạm giam Bình Thới (cơ sở 1);
  • - Phòng PC 53 (CA Tp. HCM);
  • - Sở Tư pháp Tp. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. (13 bản)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Huỳnh Ngọc Tuân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2025/HSST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 203/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thu H có hành vi trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger