Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 203/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-11-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 –THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công;

Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 333/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 2004; nơi thường trú: Ấp T, xã N, huyện A (nay là xã N), tỉnh An Giang, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh N1, sinh năm 1991; nơi thường trú: Số B, ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường M, Thành phố Cần Thơ), vắng mặt.

Cùng nơi tạm trú: Số A, tổ A, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị N trình bày:

Bà N và ông N1 tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh An Giang (nay là xã N), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 79, ngày 27 tháng 8 năm 2024.

Sau khi kết hôn, bà N và ông N1 sống hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N1 không quan tâm chăm sóc cho vợ con, mặc dù là con chung còn nhỏ tuy nhiên ông N1 vẫn không hề quan tâm đến bà N và con, thường xuyên vắng nhà, không phụ bà N về kinh tế, cả hai thường xuyên to tiếng với nhau, bất đồng trong cuộc sống hôn nhân. Bà N và ông N1 chính thức không sống chung một nhà từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay, tuy nhiên trước thời gian đó, bà N và ông N1 cũng ít sống chung với nhau vì ông N1 thường xuyên bỏ nhà đi mà bà N cũng không biết rõ lý do đi đâu và không nói cho bà N biết là đi đâu và làm gì, mỗi lần đi khoảng nữa tháng mới về và khi về là to tiếng với bà N. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông N1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông N1 có một con chung là Huỳnh Gia K sinh ngày 08 tháng 5 năm 2024. Bà N yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung nói trên và không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tòa án tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, tuy nhiên bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Bà N có đơn xét xử vắng mặt và bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong biên bản lấy lời khai.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà N được ly hôn với ông N1; về con chung: Giao con chung Huỳnh Gia K sinh ngày 08 tháng 5 năm 2024 cho bà N trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[2] Về tố tụng:

[2.1] Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông N1; ông N1 có nơi tạm trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Đối với bị đơn Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, cố tình không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông N1 kết hôn vào ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh An Giang (nay là xã N), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 79, ngày 27 tháng 8 năm 2024 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông N1 chính quyền địa phương không nhận thấy mâu thuẫn gì, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập để ông N1 tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa nhưng ông N1 vẫn cố tình vắng mặt xem như ông đã từ bỏ quyền trình bày để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng chứng tỏ ông N1 không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Ngoài ra, bà N và ông N1 sống ly thân và không chung một nhà tháng 02 năm 2025 cho đến nay, vợ chồng không cùng nhau xây dựng kinh tế, hạnh phúc gia đình như vậy vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau.

[3.3] Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà N và ông N1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà N yêu cầu được ly hôn với ông N1 là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4] Về con chung: Bà N yêu cầu trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Huỳnh Gia K sinh ngày 08 tháng 5 năm 2024. Xét, bà N có công việc và thu nhập ổn định, con chung dưới 36 tháng tuổi và hiện đang sống chung với bà N. Do đó, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo và công dân có ích cho xã hội nên giao cháu K cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con chung.

[3.6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thoả thuận nên không yêu cầu toà án giải quyết.

[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị N đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh N1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị N được ly hôn với ông Huỳnh Thanh N1.

- Về con chung: Giao con chung Huỳnh Gia K sinh ngày 08 tháng 5 năm 2024 cho bà Đỗ Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Đỗ Thị N không yêu cầu ông Huỳnh Thanh N1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thoả thuận nên không yêu cầu toà án giải quyết

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Đỗ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022390 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND khu vực 16;
  • - Phòng Thi hành dân sự khu vực 16;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2025/HNGĐ-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 203/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐỖ THỊ N- HUỲNH THANH N1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger