Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 203/2025/DSPT

Ngày 08/12/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tuyết Mai

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình

Bà Triệu Thị Luyện

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 08/12/2025, Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2025/TLPT-DS, ngày 20/10/2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST, ngày 19/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXPT-DS, ngày 06/11/2025 giữa:

* Nguyên đơn: Ông Hà Ngọc L, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố L, phường T, tỉnh Bắc Ninh). Có mặt;

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982 và chị Đặng Thị H, sinh năm 1987; Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh). Anh Đ có mặt; chị H vắng mặt;

Người kháng cáo: Bị đơn là anh Nguyễn Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn ông Hà Ngọc L trình bày: Ông với vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ và chị Đặng Thị H có quan hệ quen biết. Ngày 09/5/2023 ông đã cho vợ chồng anh Đ, chị H vay 750.000.000 đồng, giấy vay do anh Đ viết, có chữ ký của anh Đ và chị H, thời gian vay từ 5 đến 12 tháng, lãi suất là 3%/tháng, lãi trả theo tháng. Khi vay có chị Trần Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang là hàng xóm của vợ chồng anh Đ là người làm chứng.

Sau khi vay, vợ chồng anh Đ đã trả lãi đến ngày 13/01/2024 là 182.500.000 đồng và chưa trả gốc. Nay ông khởi kiện yêu cầu anh Đ, chị H phải trả ông số tiền gốc là 750.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 14/01/2024 đến ngày 14/6/2025 với lãi suất là 10%/năm là 106.250.000 đồng, tổng cộng là 856.250.000 đồng. Ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.

Việc vợ chồng anh Đ vay tiền ông không liên quan đến vợ ông nên ông đề nghị Tòa án không đưa vợ ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

* Bị đơn chị Đặng Thị H trình bày: Vợ chồng chị có quen biết với ông Hà Ngọc L. Ngày 09/5/2023, vợ chồng chị có vay của ông Lượt là 750.000.000 đồng, thời gian vay từ 5 đến 12 tháng, lãi suất 3%/tháng, trả lãi theo tháng, sau 12 tháng bên vay phải thanh toán toàn bộ gốc và lãi. Giấy vay do anh Đ viết, có chữ ký của chị và anh Đ, người làm chứng là chị N. Vợ chồng chị đã nhận đủ 750.000.000 đồng. Chữ viết và chữ ký trên Giấy vay tiền ghi ngày 09/5/2023 mà ông L cung cấp cho Tòa án đúng là của vợ chồng chị. Nhưng chị không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L, vì chị đã chuyển khoản trả ông L 300.000.000 đồng tiền gốc. Chị sẽ cung cấp sao kê ngân hàng cho Tòa án sau.

Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm yêu cầu anh Đ chị H cung cấp tài liệu chứng cứ, chứng minh việc trả ông L 300.000.000 đồng tiền gốc cho ông L nhưng anh Đ, chị H không cung cấp được.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L. Tuy nhiên, do kinh tế khó khăn, thua lỗ nên anh xin ông L tiền lãi, còn 750.000.000 đồng tiền gốc thì anh xin trả dần trong khoảng thời gian từ 12 đến 18 tháng cho khi đến khi hết số tiền gốc trên.

Bà Trần Thị L1, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, tỉnh Bắc Ninh (là vợ cũ của ông L) xác nhận số tiền 750.000.000 đồng ông L cho vợ chồng anh Đ vay ngày 09/5/2023 này là của riêng ông L, không liên quan đến bà nên bà không có yêu cầu, đề nghị gì.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 19/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh đã áp dụng Điều 357, Điều 429, Điều 463, khoản 1 Điều 466, điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Ngọc L: Buộc anh Nguyễn Văn Đ, chị Đặng Thị H phải trả cho ông Hà Ngọc L tổng số tiền đã vay theo giấy vay tiền ngày 09/5/2023 là 856.250.000 đồng (trong đó số tiền nợ gốc 750.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 14/01/2024 đến ngày 14/6/2025 là 106.250.000 đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử về nghĩa vụ thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2025, anh Nguyễn Văn Đ kháng cáo một phần bản án đề nghị cấp phúc thẩm xem xét miễn trả phần tiền lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án như sau: Nguyên đơn là ông Hà Ngọc L đồng ý giảm cho bị đơn một phần tiền lãi là 26.250.000 đồng trong tổng số tiền lãi phải trả theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Theo đó, số tiền nợ gốc là 750.000.000 đồng và 80.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng bị đơn phải trả cho ông L số tiền là 830.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn Đ nhất trí và ấn định thời hạn trả toàn bộ số tiền trên cho ông L làm 02 lần; lần thứ nhất là ngày 06/02/2026 sẽ trả 250.000.000 đồng và lần thứ hai là ngày 30/5/2026 trả nốt 580.000.000 đồng. Nếu quá thời hạn trên mà anh Đ và chị H không trả thì hàng tháng anh Đ và chị H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ông Hà Ngọc L nhất trí với thỏa thuận của anh Đ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 148 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án. Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Anh Nguyễn Văn Đ và chị Đặng Thị H trả cho ông Hà Ngọc L số tiền gốc là 750.000.000đ và tiền lãi là 80.000.000đ, tổng cộng là 830.000.000đ.

Thời hạn trả: Ngày 06/02/2026 (dương lịch) trả 250.000.000đ, ngày 30/5/2026 (dương lịch) trả 580.000.000đ. Nếu quá thời hạn trên anh Đ và chị H không trả thì hàng tháng anh Đ và chị H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ nộp trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Nội dung vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Đặng Thị H trả cho ông Hà Ngọc L số tiền gốc là 750.000.000đ và tiền lãi là 80.000.000đ, tổng cộng là 830.000.000đ. Thời hạn trả như sau: Ngày 06/02/2026 trả 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 30/5/2026 trả 580.000.000đ (Năm trăm tám mươi triệu đồng). Nếu quá thời hạn trên anh Đ và chị H không trả thì hàng tháng anh Đ và chị H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Do sửa án sơ thẩm nên anh Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ.
  2. Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

    Anh Nguyễn Văn Đ và chị Đặng Thị H trả cho ông Hà Ngọc L số tiền gốc là 750.000.000đ và tiền lãi là 80.000.000đ, tổng cộng là 830.000.000đ. Thời hạn trả như sau:

    Ngày 06/02/2026 (dương lịch) trả 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

    Ngày 30/5/2026 (dương lịch) trả 580.000.000đ (Năm trăm tám mươi triệu đồng).

    Nếu quá thời hạn trên anh Đ và chị H không trả thì hàng tháng anh Đ và chị H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 36.900.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Đ đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000937 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Anh Đ còn phải nộp 36.600.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND khu vực 1-Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 1-Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2025/DSPT ngày 08/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 203/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Hà Ngọc L và ông Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger