|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH Bản án số: 203/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2025. V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phú Hải;
- Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
Thư ký phiên tòa: ông Lê Xuân Cường, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1); địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, số A P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V – chức vụ: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hàn Ngọc V: bà Trần Thị Thu H – chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Q (V1) (Giấy ủy quyền số 089458.25 ngày 08/4/2025).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Thu H:
- Ông Phan Xuân H1 - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Đức M - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q, vắng mặt;
- Ông Lê Châu Hoàng U - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q, có mặt;
- Ông Nguyễn Anh Đ - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q, vắng mặt.
Văn bản ủy quyền số 225789.25 ngày 01/8/2025.
2
Bị đơn: Ông Phùng Hữu H2, sinh năm 1978 và bà Võ Thị Hồng N, sinh năm 1980; cùng địa chỉ: ấp M, xã T, tỉnh Tây Ninh (trước đây là Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q trình bày:
Ngày 18/01/2023, bà N và ông H2 ký với Ngân hàng TMCP Q Hợp đồng tín dụng số 9810136.23 để vay số tiền: 570.000.000 đồng; mục đích: thanh toán tiền mua xe ô tô con, mới 100%, tiêu dùng, nhãn hiệu TOYOTA COROLLA, biển số 70A-402.54; thời hạn vay: 96 tháng. Trả nợ gốc hàng tháng vào ngày 25, kỳ trả đầu tiên ngày 25/02/2023, mỗi kỳ trả 5.938.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 13.5%/năm, được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.1%/năm; tiền lãi trả hàng tháng, vào ngày 25; kỳ trả đầu tiên ngày 25/02/2023. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, bà N và ông H2 đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q tài sản là: xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 70A-402.54, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70 000678 do Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10/01/2023, đứng tên bà Võ Thị Hồng N, theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 7008481.23 ngày 18/01/2023. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 18/01/2023, Ngân hàng TMCP Q đã giải ngân cho bà N và ông H2 số tiền 570.000.000 đồng, theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 9810136.23 theo đúng yêu cầu và phù hợp với quy định tại Hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng: bà N và ông H2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 25/06/2024. Tính đến ngày 26/08/2025, bà N, ông H2 đã thanh toán được 95.108.000 đồng tiền nợ gốc và 104.284.395 đồng tiền lãi, còn nợ Ngân hàng số tiền là 577.873.682 đồng, trong đó: nợ gốc là 474.892.000 đồng, nợ lãi là: 102.981.682 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu bà Võ Thị Hồng N và ông Phùng Hữu H2 trả toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 26/08/2025 là 577.873.682 đồng, trong đó: nợ gốc là 474.892.000 đồng, nợ lãi là: 102.981.682 đồng.
Bà Võ Thị Hồng N và Ông Phùng Hữu H2 phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc, nợ lãi chậm trả, phí theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 27/8/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản tiền phải trả Ngân hàng TMCP Q theo quy định tại hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp.
Trường hợp bà N và ông H2 không trả được toàn bộ khoản nợ thì đề nghị cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 70A-402.54, số khung MR2BZ3BE002000764, số máy 2ZRY959563, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70 000678 do Công an H, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10/01/2023, đứng tên bà Võ Thị Hồng N. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả
3
khoản nợ của bà N và ông H2 với Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bà N và ông H2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
Ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do và quá trình giải quyết vụ án ông H2, bà N không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q trình bày:
Yêu cầu bà N và ông H2 trả toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 30/9/20215 là 588.630.509 đồng, trong đó: nợ gốc là 474.892.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 53.051.350 đồng, nợ lãi quá hạn là 60.687.159 đồng. Trường hợp không thanh toán hết nợ, thì Ngân hàng được xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn ông H2, bà N vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo trình tự, thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết tranh chấp vụ án theo hướng:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với ông H2, bà N về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông H2, bà N trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2025 là 577.873.682 đồng, trong đó: nợ gốc là 474.892.000 đồng, nợ lãi là: 102.981.682 đồng. Tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng. Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ, thì Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp.
- Về án phí sơ thẩm dân sự: ông H2, bà N phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Q khởi kiện ông H2, bà N yêu cầu thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số
4
9810136.23 ngày 18/01/2023 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 9810136.23. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
[1.2] Tại phiên tòa, ông H2 và bà N đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q thấy rằng:
[2.1] Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông H2, bà N trả số tiền nợ là 588.630.509 đồng, trong đó: nợ gốc là 474.892.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 53.051.350 đồng, nợ lãi quá hạn là 60.687.159 đồng, thấy rằng: ngày 18/01/2023, bà N và ông H2 ký với Ngân hàng TMCP Q Hợp đồng tín dụng số 9810136.23 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 9810136.23 để vay số tiền: 570.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận trả nợ gốc và tiền lãi hàng tháng vào ngày 25, kỳ trả đầu tiên ngày 25/02/2023, mỗi kỳ trả 5.938.000 đồng tiền nợ gốc, số còn lại trả vào cuối kỳ, lãi suất theo thỏa thuận từng thời kỳ. Ngày 25/06/2024, bà N và ông H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc, tiền lãi. Tính đến ngày 26/08/2025, bà N và ông H2 đã thanh toán được cho Ngân hàng 95.108.000 đồng tiền nợ gốc và 104,284,395 đồng tiền lãi. Xét thấy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa ông H2, bà nghiêm và Ngân hàng TMCP Q là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng, số tiền nợ gốc và tiền lãi phù hợp với bảng kê tính lãi và các tài liệu chứng chứ khác. Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q là có cơ sở chấp nhận.
Buộc ông H2, bà N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q, tổng số tiền nợ 588.630.509 đồng, trong đó: nợ gốc là 474.892.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 53.051.350 đồng, nợ lãi quá hạn là 60.687.159 đồng.
Kể từ ngày 01/10/2025, ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[2.2] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng TMCP Q thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án, ông H2 và bà nghiêm là người quản lý, sử dụng tài sản thế chấp không phối hợp, không cung cấp thông tin, địa chỉ của tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 70A-402.54 nên Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm định được tài sản thế chấp. Tuy nhiên, xét Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 7008481.23 ngày 18/01/2023, các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, phù hợp với khoản 2 Điều 292,
5
Điều 295, Điều 317 Bộ luật dân sự. Do vậy hợp đồng thế chấp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết theo khoản 1 Điều 319 Bộ luật dân sự. Việc không xem xét, thẩm định được không ảnh hưởng đến tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng, do vậy yêu cầu của nguyên đơn về việc cho phát mại, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông H2, bà N không thanh toán hết tiền nợ cho Ngân hàng theo khoản 2 Điều 299 Bộ luật dân sự là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q được chấp nhận nên ông H2, bà N phải chịu 27.545.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 116, 117, 119, khoản 1 Điều 275, 280, 282, khoản 2 Điều 292, 295, khoản 1 Điều 299, 319, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ là 588.630.509 (năm trăm tám mươi tám triệu, sáu trăm ba mươi nghìn, năm trăm lẻ chín) đồng, trong đó: nợ gốc là 474.892.000 (bốn trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm chín mươi hai nhìn) đồng, nợ lãi trong hạn là: 53.051.350 (năm mươi ba triệu, không trăm năm mươi mốt nghìn, ba trăm năm mươi) đồng, nợ lãi quá hạn là 60.687.159 (sáu mươi triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi chín) đồng.
Kể từ ngày 01/10/2025, ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N thanh toán xong các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Q có nghĩa vụ giải chấp và trả lại giấy
6
chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70 000678 do Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10/01/2023, đứng tên bà Võ Thị Hồng N cho ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N.
Trường hợp ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N không thanh toán được khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N phải chịu biện pháp cưỡng chế phát mãi tài sản đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 7008481.23 ngày 18/01/2023, tài sản thế chấp là: xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 70A-402.54, số khung MR2BZ3BE002000764, số máy 2ZRY959563, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 70 000678 do Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10/01/2023, đứng tên bà Võ Thị Hồng N.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phùng Hữu H2 và bà Võ Thị Hồng N phải chịu 27.545.000 đồng (hai mươi bảy triệu, năm trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q 12.573.000 (mười hai triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002274 ngày 06/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Nguyên |
Bản án số 203/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 203/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP VIP khởi kiện ông Phùng Hữu H và bà Võ Thị Hồng N yêu cầu thanh toán các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng
