Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2024/HS-ST

Ngày 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình, bà Đỗ Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 208/2024/TLST-HS ngày 13/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1968; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Ngô Thị L, sinh năm 1997, con: có 03 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

  3. Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1973; 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1996, con: có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

* Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1.

Địa chỉ: Lô C - 3, khu công nghiệp Y (khu mở rộng), xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KWAK SOO HYUK.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị M1 – Trưởng phòng hành chính Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị X - sinh năm 2006; đăng ký thường trú tại Xóm C, thôn T, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T và Trần Văn H đều là công nhân của Công ty TNHH L2 (gọi tắt là Công ty), địa chỉ tại khu công nghiệp Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Trong quá trình làm việc tại Công ty, H và T cùng nảy sinh ý định trộm cắp các thanh đồng trong các tủ điện ở xưởng sản xuất của Công ty để bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 24/8/2024, H và T đến xưởng sản xuất của Công ty rồi đi đến vị trí tủ điện để trộm cắp các thanh đồng bên trong. H dùng tay đẩy cánh cửa ngăn tủ để T dùng tay trộm cắp các thanh đồng. T cầm 01 con dao tem mang theo từ trước cắt dây thít màu đen đang cuốn 08 thanh đồng thành phẩm màu trắng, kích thước mỗi thanh (10 x 60 x 110)mm để bên trong tủ. Trong lúc T cắt dây thít thì H đứng ở lối đi giữa các gian tủ để quan sát xung quanh, cảnh giới cho T. Sau khi cắt xong, T lôi các thanh đồng này ra rồi cho vào 02 túi quần dài phía trước mà T đang mặc.

Sau đó H và T tiếp tục di chuyển lần lượt đến các tủ điện tiếp theo để trộm cắp các thanh đồng, H và T lấy được tổng số 26 thanh đồng thành phẩm màu trắng có kích thước (12 x 100 x 150)mm trong 03 tủ. Sau đó, H và T chia nhau các thanh đồng trộm cắp được và giấu các thanh đồng này trong tủ để đồ ở phòng nghỉ trưa dành cho nhân viên nam trong Công ty rồi quay lại làm việc.

Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày 24/8/2024, T lấy 01 cuộn băng dính có sẵn ở trong xưởng rồi quay lại phòng nghỉ chỗ tủ để đồ và lấy 12 thanh đồng kích thước (12 x 100 x 150)mm, 08 thanh đồng kích thước (10 x 60 x 110) mm, mang vào nhà vệ sinh nam cạnh phòng nghỉ. Tại đây, T dùng cuộn băng dính cuốn 12 thanh đồng kích thước (12 x 100 x 150)mm ở quanh chân và cho 08 thanh đồng kích thước (10 x 60 x 110) mm vào 02 túi quần dài phía trước của T đang mặc rồi

đi ra ngoài. Khi ra khỏi cổng Công ty, T bắt xe ôm của một người không quen biết rồi mang 20 thanh đồng trộm cắp được đến cơ sở thu mua phế liệu do chị Phan Thị X, T bán cho chị X 20 thanh đồng với giá 3.800.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/8/2024, H lấy 01 cuộn băng dính có sẵn ở trong xưởng rồi mang 14 thanh đồng kích thước (12 x 100 x 150) mm còn lại trong tủ đề đồ ở phòng nghỉ trưa, rồi vào nhà vệ sinh nam. Tại đây, H dùng băng dính cuốn 14 thanh đồng này vào hai chân. Sau đó H đi bộ đến phòng bảo vệ của Công ty thì bị bảo vệ phát hiện, giữ lại,

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 68 ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận:

  • 26 thanh đồng thành phẩm màu trắng, kích thước 12*100*150 mm, trọng lượng 39kg, chưa qua sử dụng tại thời điểm tháng 8/2024 có giá trị là: 10.374.000 đồng.
  • 08 thanh đồng thành phẩm màu trắng, kích thước 10*60*110 mm, trọng lượng 4kg, chưa qua sử dụng tại thời điểm tháng 8/2024 có giá trị là: 1.064.000 đồng.

- Tổng giá trị là 11.438.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 202/CT-VKSYP ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn T, Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đều thừa nhận Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại là Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 do bà Nguyễn Thị M1 là người đại diện theo ủy quyền vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Công ty đã nhận lại 34 thanh đồng thành phẩm màu trắng do các bị cáo T, H đã trộm cắp, Công ty không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị X vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Chị đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 34 thanh đồng thành phẩm màu trắng, chị X không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về hình phạt : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn H từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty TNHH L2 đã nhận 34 thanh đồng thành phẩm màu trắng do các bị cáo đã trộm cắp, Công ty TNHH L2 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao tem màu bạc được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín, có đóng dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập, đã đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 24/8/2024, tại Công ty TNHH L2, địa chỉ tại khu công nghiệp Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Trần Văn H và Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp 26 thanh đồng thành phẩm màu trắng, kích thước (12 x 100 x 150) mm, trị giá 10.374.000 đồng và

08 thanh đồng thành phẩm màu trắng, kích thước (10 x 60 x 110) mm, trị giá 1.064.000 đồng của Công ty L2. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 11.438.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, tài sản trộm cắp có tổng trị giá 11.438.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tính tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đến Công an đầu thú. Do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án có tình chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể và vai trò ngang nhau trong vụ án, cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo giáo dục đối với các bị cáo.

Trong vụ án trộm cắp tài sản, các bị cáo có sự tiếp nhận ý chí, cùng chung mục đích, cố ý cùng thực hiện tội phạm, có sự liên hệ, tác động lẫn nhau nên cần xác định đây là vụ án có đồng phạm. Tuy nhiên, vụ án không có yếu tố của tội phạm có tổ chức vì các bị cáo đều là người thực hành, trước và trong khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ vai trò giữa các bị cáo, do vậy đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Do đó, các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là đã được nhận lại tài sản, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 dao tem màu bạc là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[3] Đối với chị Phan Thị X là người đã mua 20 thanh đồng của T. Do chị X không biết những thanh đồng này là do T trộm cắp mà có và T cũng không nói cho chị X biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xem xét, xử lý đối với chị X là phù hợp.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2024.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn H 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2024.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao tem màu bạc được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín, có đóng dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo T và bị cáo H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Báo cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu HS, VP.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 203/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thành, Trần Văn Hùng - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger