|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 203/2024/HS-ST Ngày: 16/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Ông: Phạm Minh Tuấn
Ông: Đoàn Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa:
Ông: Nguyễn Việt Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 157/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-HPT ngày 12/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 03/01/2006 (Khi phạm tội 18 tuổi 02 tháng 01 ngày); Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không: Nơi thường trú: TDP số 1 Đ, phường Đ, quận N, Hà Nội; Nghề nghiệp: học sinh; Học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1981; Con bà: Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1981; Gia đình có 2 chị em; bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 05/3/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
2. Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 08/01/2006 (Khi phạm tội 18 tuổi 02 tháng 04 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: tổ B, phường L, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: học sinh; Học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn P, sinh 1977; Con bà: Trương Thị H1, sinh 1977; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: + 01 tiền sự: Ngày 25/02/2024, Công an quận H, Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính số 7143 về hành cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Nhân thân: Ngày 12/6/2024 bị cáo bị Công an quận L ra quyết định khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản”.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ ngày 05/3/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.
3. Đặng Lưu Thanh T2, sinh ngày 26/01/2006 (Khi phạm tội 18 tuổi 02 tháng 22 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: số E B, phường C, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: học sinh; Học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đặng Hữu T3, sinh 1982; Con bà: Lưu Thị G, sinh 1982; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: + 01 tiền sự: Ngày 25/02/2024, Công an quận H, Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính số 7137 về hành cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Nhân thân: Ngày 12/6/2024 bị cáo bị Công an quận L ra quyết định khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản”.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ ngày 05/3/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.
4. Nguyễn Quang H2, sinh ngày 04/10/2006 (Khi phạm tội 17 tuổi 05 tháng); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: Tổ B, phường L, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: học sinh; Học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Tuấn H3, sinh 1974; Con bà: Nguyễn Thị H4, sinh 1978; Gia đình có 2 chị em; bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 02/12/2023, Công an quận L, Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính số 4799 về hàn vi tàng trữ vũ khí thô sơ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 05/3/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
5. Đặng Văn T4, sinh ngày 02/8/2006 (Khi phạm tội 17 tuổi 07 tháng 02 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: xóm D, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: học sinh; Học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đặng Văn T5, sinh 1982; Con bà: Nguyễn Thị T6, sinh 1983 (đã chết);
Tiền án, tiền sự: 01tiền sự: Ngày 25/02/2024, Công an quận H, Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính số 7142 về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nhân thân: Ngày 12/6/2024 bị cáo bị Công an quận L ra quyết định khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản”
Bị cáo đầu thú ngày 17/3/2024, tạm giữ ngày 18/3/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo:
- + Ông Nguyễn Tuấn H3, sinh 1974 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1978. Cùng nơi thường trú: Tổ B, phường L, quận H, Hà Nội- là bố mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Quang H2 (ông H3 có mặt).
- + Ông Đặng Văn T5, sinh 1982 (đang chấp hành án). N ơi thường trú: xóm D, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định - là bố mẹ đẻ của bị cáo Đặng Văn T4.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang H2 và bị cáo Đặng Văn T4: Ông Trương Công Đ – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T9.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra xác định: Quá trình đi học tại trường THPT Đ3, chị Nguyễn Quỳnh T7, sinh năm 2006, HKTT: Phường Đ, Quận N, thành phố Hà Nội và anh Nguyễn Đình Duy A1, sinh năm: 2006, HKTT: TDP N, phường Đ, Quận N, thành phố Hà Nội - là người yêu chị Quỳnh T7 phát sinh mâu thuẫn với Nguyễn Thị Thu T do anh Duy A1 có gọi người đánh người yêu Nguyễn Thị Thu T là anh Nguyễn Trung H5 và dọa sẽ đánh Thu Trang nên ngày 02/3/2024, Thu T sử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin cho Nguyễn Tuấn A để nhờ Tuấn A tìm thêm người cùng đánh dần mặt Duy A1. Thu T hứa sẽ trả công cho Tuấn A 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Tuấn A đồng ý và rủ thêm Đặng Văn T4 hẹn vài hôm sau sẽ cùng tham gia đến đánh Duy A1. Sau đó, Tuần A2 gửi tài khoản Facebook của anh Duy A1 cho T4 nhận mặt. T4 nói với Tuấn A sẽ mang dao tông đi để dọa và đánh lại khi xảy ra đánh nhau.
Khoảng 8 giờ 00 ngày 04/3/2024, T nhắn tin cho Tuần A2 nói anh Duy A1 lại chửi T và thách thức đánh nhau. Sau đó, T hẹn Tuấn A cùng nhóm của Tuấn A buổi trưa đến trường Đ3 để tìm đánh anh Duy A1. Lúc này, Tuấn A nhắn tin hẹn Đặng Văn T4 là: "Trưa nay đi xuống đấy nhé" thì T4 hiểu là đi xuống khu vực trường THPT Đ3 để tìm đánh Duy A1 nên đồng ý và bảo Tuấn A sau khi tan học qua đón T4. Tuấn A tiếp tục nhăn tin rủ Đặng Lưu Thanh T2 và Nguyễn Quang H2. Tuấn A nói với H2 và T2 là: "Tan học đi xuống Đại Mỗ với tôi, có thằng này có chửi anh em Hoàng M chúng mình, phải xuống đánh nó". T2 và H2 đều đồng ý, không hỏi gì thêm. Tuấn A nhắn với T là 11 giờ 30 sẽ đến và dặn đánh xong thì xóa tin nhắn đi nếu không sẽ bị phát hiện.
Sau đó, T xin số tài khoản của Tuấn A để chuyển tiền. Tuấn A cho số tài khoản của T4 (số tài khoản 0921394735 mang tên DANG VAN TAI mở tại ngân hàng M1) thì T chuyển 1.500.000 đồng nói là chuyển trước tiền, sau khi đánh xong Duy A1 thì T sẽ trả nốt. Khoảng 11 giờ 00 cùng ngày, Tuấn A tan học điều khiển xe máy Honda, BKS: 29H2- 386.36 của Tuấn A đón T4 ở đường N, T, Hà Nội. Tuấn A chở T4 đến Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận H đề gặp nhóm của Nguyễn Quang H2. H2 điều khiển xe máy Honda Wave, BKS: 29H2-288.89 chở kẹp ba với Đặng Lưu Thanh T2 và Giang Danh Đ1 (Sinh ngày 23 tháng 5 năm 2008, HKTT: Tổ A T, quận H, Hà Nội- được H2 rủ đi cùng đánh nhau). Cả nhóm 2 xe máy di chuyển về hướng trường THPT Đ3, Tuấn A chở T4, H2 chở Đ1 ngồi giữa và T2 ngồi sau cùng. Trên đường đi, T4 làm rơi một con dao tông (đầu vuông) dài khoảng 50 cm màu trắng xuống đất, T2 xuống xe nhặt đưa lại cho T4, T4 cất trong áo trước ngực, cả nhóm đều nhìn thấy T4 mang theo dao nhưng không ai nói gì. Sau đó, cả nhóm tiếp tục đi đến gặp Thu T đang đứng chờ sẵn tại khu vực gần cổng trường THPT Đ3 tìm đợi anh Duy A1.
Đến khoảng gần 12 giờ 50 cùng ngày, anh Duy A1 đi cùng chị Nguyễn Quỳnh T7 đến trường THPT Đ3 để học buổi chiều. Do biết Thu T gọi người đến tìm mình nên trước đó anh Duy A1 đã rủ nhờ anh Đỗ Quang H6 (SN: 1983; HKTT: TDP A, Đ, N, Hà Nội- là anh họ của anh Duy A1) đi cùng đưa đến trường. Khi đến khu vực gần công trường, trông thấy nhóm của Thu T thì anh Duy A1 điều khiến xe máy chở chị Quỳnh T7 ngồi sau chủ động đến trước mặt Thu T và nói: "Chúng mày hôm nay đến chờ đánh tao đúng không”. Đồng thời, anh Đỗ Quang H6 cũng dựng xe máy, xuống xe đứng cạnh anh Duy A1 và nói: “Tao đố chúng mày dám động vào nó”. Anh H6 nhìn vào nhóm của Tuấn A và nói: “ Chúng mày nhìn cái gì” thì T4 liền rút dao tông từ trong áo khoác xông về phía anh H6 để đuổi chém khiến anh H6 bỏ xe chạy bộ ngược về phía cổng trường THPT Đ3. T4 tiếp tục đuổi theo nhưng không được. Anh Duy A1 trông thấy T4 cầm dao thì hoảng sợ bỏ chạy nhưng bị Tuấn A, Đ1 và T2 đuổi theo giữ lại và dùng chân, tay không đấm, đá nhiều phát vào người anh Duy A1, còn Quang H2 ngoi tai xe may quan sat ca nhom danh nhau. Cùng thời điểm đó, Thu T và chị Quỳnh T7 cùng lao vào dùng chân tay không đánh túm tóc chửi bói và vật lộn nhau. T4 đuổi theo anh H6 không được thì cầm dao tông quay về phía Thu T và chị Quỳnh T7 đang đánh nhau. T4 thấy Thu T và chị Quỳnh T7 đang giằng co nên T4 kéo Thu T ra rồi cầm dao tông (phần sống dao) đập một phát vào lưng chị Quỳnh T7 nhưng trúng vào ba lô mà chị Quỳnh T7 đang đeo, T4 tiếp tục dùng phần sống dao tông vung lên đập một phát vào vùng đầu của chị Quỳnh T7 khiến chị Quỳnh T7 chảy máu, choáng váng (Thời điểm này không ai nhìn thấy sự việc do Tuấn A, Đ1 và T2 đang đánh anh Duy A1 con chị Quỳnh T7 và Thu T vẫn đang túm tóc nhau vật lộn không để ý được sự việc xung quanh). Chị Quỳnh T7 vung tay thì tay phải quơ trúng vào lưỡi dao tông gây thương tích cho các ngón tay. Thấy chị Q T7 bị thương tích thì cả nhóm Tuấn A lên xe máy bỏ đi. Thu Trang vào trong trường học, chị Quỳnh T7 được ra bệnh viện Q1 để xử lý vết thương trên đầu. Tuấn A chở H2 về, Đ1 chở T2 và T4 về chỗ làm việc của T4 tại N, T, Hà Nội. Khi xuống xe T4 đưa lại dao cho T2 nhờ cất. Đ1 chỉ T2 cất dao tông tại bãi đất gần nhà. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, thì T4 chuyển khoản cho Tuấn A 1.000.000 đồng (từ tiền mà Thu T chuyển) đến số tài khoản số: 6666088880 mang tên NGUYEN TUAN ANH mở tại ngân hàng T10, T nhắn tin cho Tuấn A bảo xóa tin nhắn đi và tạm thời không liên lạc với nhau đồ tránh bị công an phát hiện. Sau đó, Tuấn A lấy tiền ăn tiêu hết đến khi bị cơ quan điều tra triệu tập.
Ngày 05/3/2024 Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 đến Cơ quan điều tra đầu thú. Đến ngày 17/3/2024, Đặng Văn T4 đến Cơ quan điều tra đầu thú.
* Vật chứng thu giữ: 01 con dao tông bằng kim loại, dài khoảng 45 cm. bản rộng khoảng 3cm, lưỡi sắc, màu sáng bạc (do G Danh Đạt giao nộp). Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.
- Đối với thương tích của chị Nguyễn Quỳnh T7: Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 263/KLTTCT- TTPY ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm T9 xác định:
"1. Các kết quả chính: 1.1. Vết thương vùng đỉnh đầu: 02% 1.2 Vết thương mặt gan khớp bàn - ngón III tay phải: 02% 1.3 Vết thương mặt gan khớp liên đốt gần ngón IV tay phải: 02%
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Quỳnh T7 tại thời điểm giám định là: 06% (Sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
2.2. Kết luận khác:
- Cơ chế hình thành gây thương tích: Các thương tích của chị Nguyễn Quỳnh T7 do vật có cạnh sắc gây ra. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ." Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích bổ sung và Quyết định dẫn giải chị Nguyễn Quỳnh T7 để giám định bổ sung, nhưng chị T7 và gia đình đã kiên quyết từ chối giám định bổ sung. Về thương tích anh Nguyễn Đình Duy A1 không yêu giám định không yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích và không yêu thường về dân sự nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xứ lý đổi với Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2 và Giang Danh Đ1- là những người trực tiếp gây thương tích cho anh Duy A1 về hành vi Cố ý gây thương tích.
Đối với Giang Danh Đ1 thực hiện hành vi khi 15 tuổi 09 tháng 11 ngày-là người dưới 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Gây Tối trật tự công cộng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chình đổi với Giang Danh Đ1 về hành vị "Gây rồi trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương" vi phạm hành chính trong linh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội quy định tại Điểm b, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức xử phạt: Cảnh cáo.
Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt hành chính đổi với Đặng Văn T4 đã có hành vị "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự" vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt là 3.250.000 đồng
Đối với chị Nguyễn Quỳnh T7, anh Nguyễn Đình Duy A1 và anh Đỗ Quang H6: Quá trình điều tra xác định khi các nhóm của Nguyễn Thị Thu T đuổi đánh thì anh Nguyễn Đình Duy A1 và anh Đỗ Quang H6 bỏ chạy, không có hành vi đánh lại còn chị Nguyễn Quỳnh T7 có đánh nhau với Nguyễn Thị Thu T nhưng căn cứ lời khai thì cả hai lao vào đánh nhau cùng lúc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Chị Nguyễn Quỳnh T7 và anh Nguyễn Đình Duy A1 đã có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ các đối tượng trong vụ án về hành vi Cố ý gây thương tích và Đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4.
Hành vi của các đối tượng đuổi, đánh và dùng hung khí gây thương tích cho chị Nguyễn Quỳnh T7 diễn ra tại khu vực cổng trường THPT Đ3, phường Đ, quận N, Hà Nội đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ủy ban nhân dân phường Đ có công văn số 64 ngày 06/3/2024 đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N xử ls nghiêm các đối tượng.
Bản cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4 về tội: Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Thu T từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.
Giao bị cáo cho UBND phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản, 2, Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Tuấn A từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024.
- + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Đặng Lưu Thanh T2 từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024.
- + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 90, 91, 101 BLHS đề nghị xử phạt Đặng Văn T4 từ 21 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024.
- + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 101; Điều 65 BLHS đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H2 từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Giao bị cáo cho UBND phường L, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tông bằng kim loại, dài khoảng 45 cm, bản rộng khoảng 3cm, lưỡi sắc, màu sáng bạc (do G Danh Đạt giao nộp).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo T4 và bị cáo H2 - Ông Trương Quang Đ2 trình bày quan điểm:
Về phần tội danh: Nhận thấy tội danh: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, khoản 2, Điều 318 BLHS là có căn cứ.
Về phần hình phạt: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo H2 và T4 bởi vì các lý do sau đây:
Thứ nhất: Các bị cáo khi phạm tội cả hai bị cáo đều là người chưa thành niên, bị cáo H2 là 17 tuổi 05 ngày; bị cáo T4 mới 17 tuổi 07 tháng 02 ngày, cộng với trình độ văn hóa thấp nên khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn rất nhiều hạn chế. Các bị cáo đang ở lứa tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, còn nhiều bồng bột nhất thời, dễ a dua theo nhau nên đã dẫn tới thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ hay phân công phân nhiệm vụ. Quá trình làm việc tại các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như được người bào chữa tư vấn giải thích pháp luật, các bị cáo đã hoàn toàn nhận thức được tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả mà hành vi do mình gây ra.
Thứ hai: Tại phiên tòa ngày hôm nay cũng như trong toàn bộ hồ sơ vụ án, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội các bị cáo đều ra đầu thú, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong muốn được sửa chữa sai lầm cũng như nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T8: Hoàn cảnh hiện nay của bị cáo éo le, bố bị cáo đang thi hành án còn mẹ bị cáo thì vừa bị chết trong vụ tai nạn, bị cáo còn một em nhỏ ở nhà. Nên đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS; Các bị cáo đều ra đầu thú, do vậy, tôi đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 2 Điều 51 BLHS và Điều 65 của BLHS đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức án treo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 12 giờ 50 ngày 04/3/2024, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4 đã có hành vi đuổi, đánh anh Nguyễn Đình Duy A1 và anh Đỗ Quang H6 và dùng hung khí gây thương tích cho chị Nguyễn Thu T tại tại khu vực trước cổng trường THPT Đ3 thuộc phường Đ, quận N, Hà Nội. Sự việc xảy ra gây mất an ninh trật tự tại khu vực trường học.
Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự do vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự.
[3]Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà:
Các bị cáo Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra, sau khi phạm tội các bị cáo đều ra đầu thú. Đối với bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình học tập bị cáo đều là học sinh giỏi, có nhiều thành tích tốt trong học tập và được nhà trường khen thưởng. Đối với bị cáo Nguyễn Quang H2 có ông nội, ông ngoại là người có công với cách mạng. Đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2 và Đặng Văn T4 các bị cáo đều có 01 tiền sự và hiện đang bị cơ quan điều tra Công an quận L khởi tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Hủy hoại tài sản”, tuy nhiên các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội các bị cáo đều ra đầu thú. Do vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2 và Đặng Văn T4 đều 01 tiền sự về hành hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác” mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy cần phải cách ly các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Đặng Văn T4 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo Điều 38 Bộ luật hình sự mới đủ giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Xét vai trò đối với các bị cáo, HĐXX thấy rằng: các bị cáo phạm tội giản đơn Tuy nhiên bị cáo T là người rủ các bị cáo khác tham gia phạm tội, là người khởi xướng nên bị cáo có vai trò đầu vụ trong vụ án. Các bị cáo khác có mức án tương ứng với hành vi của các bị cáo gây ra.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, trong quá trình học tập bị cáo có thành tích học tập tốt và được nhà trường khen thưởng. Đối với bị cáo Nguyễn Quang H2, mặc dù bị cáo có 01 tiền sự tuy nhiên khi bị cáo phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 05 ngày, nhận thức về pháp luật của bị cáo còn hạn chế, gia đình bị cáo có ông nội, ông ngoại là người có công với cách mạng. Do vậy không nhất thiết phải cách ly bị cáo H2 và bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành người tốt.
Đối với Giang Danh Đ1 thực hiện hành vi khi 15 tuổi 09 tháng 11 ngày-là người dưới 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Gây Tối trật tự công cộng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chình đổi với Giang Danh Đ1 về hành vị "Gây rồi trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương" vi phạm hành chính trong linh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội quy định tại Điểm b, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức xử phạt: Cảnh cáo.
Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt hành chính đổi với Đặng Văn T4 đã có hành vị "Cố ý gây thương tích hoặc gây tồn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự" vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt là 3.250.000 đồng
Đối với chị Nguyễn Quỳnh T7, anh Nguyễn Đình Duy A1 và anh Đỗ Quang H6: Quá trình điều tra xác định khi các nhóm của Nguyễn Thị Thu T đuổi đánh thì anh Nguyễn Đình Duy A1 và anh Đỗ Quang H6 bỏ chạy, không có hành vi đánh lại còn chị Nguyễn Quỳnh T7 có đánh nhau với Nguyễn Thị Thu T nhưng căn cứ lời khai thì cả hai lao vào đánh nhau cùng lúc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Chị Nguyễn Quỳnh T7 và anh Nguyễn Đình Duy A1 đã có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ các đối tượng trong vụ án về hành vi Cố ý gây thương tích và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: cần tịch thu tiêu hủy: 01 con dao tông bằng kim loại, dài khoảng 45 cm, bản rộng khoảng 3cm, lưỡi sắc, màu sáng bạc.
Đối với số tiền 1.500.000 đồng bị cáo T chuyển cho bị cáo T4, T4 chuyển cho Tuấn A 1.000.000đồng, còn T4 giữ lại 500.000 đồng, cần truy thu sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự theo quy định tại Điều 21, 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4 phạm tội: Gây rối trật tự công cộng.
- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65; Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H2 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND phường L, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024.
- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Lưu Thanh T2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024.
- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T4 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử lý vật chứng: 01 con dao tông bằng kim loại, dài khoảng 45 cm. bản rộng khoảng 3cm, lưỡi sắc, màu sáng bạc.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 225 ngày 14/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm).
Buộc bị cáo T4 phải truy nộp số tiền 500.000 đồng và buộc bị cáo Tuấn A phải truy nộp số tiền 1.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
- Áp dụng khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo H2, người bào chữa cho bị cáo H2 và bị cáo T4 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Thanh |
Bản án số 203/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 203/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Tuấn A, Đặng Lưu Thanh T2, Nguyễn Quang H2 và Đặng Văn T4 phạm tội: Gây rối trật tự công cộng (
