TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 203/2024/HNGĐ-ST Ngày 27-9-2024 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đặng Thị Hồng Thủy |
Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Xuân Phương Ông Lê Kim Thành |
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. | |
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung – Kiểm sát viên. | |
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 327/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm: 1997
Địa chỉ: Khu phố 4, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Địa chỉ liên hệ: Hẻm 367 Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Văn Ngọc T1, sinh năm: 1988
Địa chỉ: Số 42 N, thôn L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Thu T trình bày: Bà và ông Võ Văn Ngọc T1 kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N vào năm 2020. Sau khi kết hôn, bà và ông T1 về sinh sống tại thôn L, xã V, thành phố N. Thời gian đầu, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, tôn trọng và yêu thương lẫn nhau. Tuy nhiên qua một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do ông T1 thường xuyên tụ tập bạn bè, nhậu nhẹt, say xỉn rồi về mắng chửi bà dẫn đến mâu thuẫn kéo dài đến mức không thể hàn gắn được. Từ tháng 10/2023, bà và ông T1 không còn sống chung với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà và ông Võ Văn Ngọc T1 có một con chung là Võ Cát T2, sinh ngày: 13/3/2020. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/8/2024, bị đơn ông Võ Văn Ngọc T1 trình bày: Ông và bà Trần Thị Thu T kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 25/02/2020. Sau khi kết hôn, ông và bà T chung sống tại thôn L, xã V, thành phố N. Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống hạnh phúc nhưng cách đây khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau, đã nhiều lần vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không được. Từ tháng 10/2023, bà T bỏ đi khỏi nhà, không còn sống chung với ông nữa. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông và bà T có một con chung là Võ Cát T2, sinh ngày: 13/3/2020. Hiện nay, bà T đang nuôi dưỡng cháu T2 nên ly hôn, ông đồng ý giao cháu T2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Thu T được ly hôn ông Võ Văn Ngọc T1. Về con chung, đề nghị giao cháu Võ Cát T2, sinh ngày: 13/3/2020 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà T và ông T1 không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị Thu T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Võ Văn Ngọc T1. Ông T1 có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Trần Thị Thu T và bị đơn ông Võ Văn Ngọc T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Thu T và bị đơn ông Võ Văn Ngọc T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 25/02/2020 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Bà T và ông T1 đều thừa nhận quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 10/2023, bà T và ông T1 không còn sống chung với nhau nữa, không ai quan tâm gì đến ai. Ông T1 đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà T và không có thiện chí để đoàn tụ gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà T là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung:
Bà Trần Thị Thu T và ông Võ Văn Ngọc T1 có một con chung là Võ Cát T2, sinh ngày: 13/3/2020. Bà T và ông T1 đều đề nghị để bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2. Hiện nay, cháu T2 đang ở với bà T do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung phát triển toàn diện và được sống ổn định nên giao cháu Võ Cát T2 cho bà T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu T được ly hôn ông Võ Văn Ngọc T1.
- Về con chung: Giao cháu Võ Cát T2, sinh ngày: 13/3/2020 cho bà Trần Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì lợi ích của con chung, nếu xét thấy cần thiết bà T và ông T1 đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thu T và ông Võ Văn Ngọc T1 xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00002271 ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí.
Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hồng Thủy |
Bản án số 203/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 203/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
