TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 203/2024/DS-PT
Ngày: 20/5/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trí Dũng
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung
Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLPT- DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 29/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K1.
Địa chỉ: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Lê Minh Đ – Chuyên viên xử lý nợ. (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: 3 Hòa Bình, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
(Được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 22/01/2024).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, Bà Tăng Thị Bé N. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Nguyễn Văn L. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
2
(Được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 18/5/2024)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn N1 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H. (có mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
(Được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 30/11/2023).
Bà Lương Thị Cẩm T (vắng mặt),Nguyễn Thị P(vắng mặt), ông Nguyễn Văn H. (có mặt)
Cùng địa chỉ: C KV R, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Ông Trương Văn P1, bà Nguyễn Thị Út . (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: C KV R, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Ông Nguyễn Văn S. (vắng mặt)
Địa chỉ: C KV R, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Ông Nguyễn Văn C. (vắng mặt)
Địa chỉ: C KV R, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/6/2021, ông Nguyễn Văn K và bà Tăng Thị Bé N có ký kết hợp đồng tín dụng từng lần với Ngân hàng TMCP K1 vay số tiền 650.000.000đồng. Mục đích vay: Vựa lúa; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất cho vay: 10.60%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi cho vay; Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Để bảo đảm cho khoản nợ vay ông K, bà N đã thế chấp quyền sử dụng đất, thuộc thửa 434, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Văn K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông K và N đã thanh toán được 260.000.000đồng nợ gốc, sau đó khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu buộc ông K, bà N phải thanh toán hết số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 08/11/2023 là 593.975.296đồng (trong đó vốn gốc 390.000.000đồng, lãi trong hạn 54.553.699đồng, lãi quá hạn 140.407.889đồng, lãi phạt chậm trả 9.013.708đồng) và tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp ông K, bà N không thanh toán được nợ thì Ngân hàng yêu cầu được phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là thửa đất 434 với diện tích 836.5m² để thu hồi nợ.
3
Tại thời điểm thẩm định trên thửa đất có 02 căn nhà ông K cho thuê, 01 căn nhà ông N1 là người thuê, 01 căn nhà Ngân hàng không rõ người thuê và Ngân hàng đã thẩm định toàn bộ 02 căn nhà này. Do Ngân hàng nhận thế chấp toàn bộ thửa đất 434 nên yêu cầu được xử lý toàn bộ tài sản này để thu hồi nợ.
Bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:
Năm 2021, ông có vay của Ngân hàng K1 số tiền 650.000.000đồng và thế chấp bằng quyền sử dụng đất của ông N1 đã chuyển nhượng thuộc thửa 434, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Sau khi vay tiền ở Ngân hàng thì ông có cho ông N1 vay lại 250.000.000đồng, lãi suất 1,5%/tháng, nhưng ông N1 không đóng lãi cho ông như đã thỏa thuận. Trong số tiền vay của Ngân hàng ông sẽ nhận trách nhiệm trả 400.000.000đồng cùng tiền lãi phát sinh, phần còn lại 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh thì ông N1 phải có trách nhiệm trả. Đối với tài sản thế chấp thực tế là quyền sử dụng đất của ông N1 vì hai bên chỉ thỏa thuận sang tên để vay tiền ở Ngân hàng K1, không có việc mua bán. Trong trường hợp ông K và ông N1 không thể trả nợ được cho Ngân hàng thì ông đồng ý cho Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Nguyễn Văn N1 trình bày:
Ngày 09/6/2021, ông có vay của ông Nguyễn Văn K số tiền 250.000.000đồng (nhưng thực tế ông K chỉ giao 200.000.000đồng), lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn vay là 03 năm kể từ ngày 09/6/2021 đến ngày 09/6/2024. Do ông không thể vay tiền ở Ngân hàng nên ông đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 434 và sang tên cho ông K để vay tiền ở Ngân hàng K1. Đồng thời ông có đồng ý cho ông K vay cao hơn số tiền mà ông vay của ông K, nhưng cụ thể ông K vay cao hơn bao nhiêu thì ông không rõ. Khi Ngân hàng K1 xuống thẩm định thì ông có biết và cũng thống nhất cho ông K thế chấp để vay. Nay Ngân hàng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thì ông sẽ liên hệ với ông K để thanh toán nợ cho Ngân hàng, nếu ông K trả nợ cho Ngân hàng không đủ thì ông sẽ bù thêm cho ông K để lấy giấy đất ra. Trường hợp nếu ông K không trả nợ và ông cũng không có khả năng trả thay cho ông K thì ông đồng ý giao tài sản cho Ngân hàng xử lý để thu hồi nợ.
Ngoài ra trên thửa đất 434, trước đây cha ruột của ông là ông Nguyễn Văn T1 (chết năm 2000) có cho ông S phần đất để làm chuồng nuôi heo, ông không rõ cho thời điểm nào, ông cũng biết việc tặng cho này và không tranh chấp gì với ông S. Phần đất này vẫn còn nằm trong thửa đất 434 do ông đứng tên chủ sử dụng. Đối với phần đất là cái hầm mà ông C đang sử dụng là do con ruột Nguyễn Văn H đứng ra bán với giá 8.000.000đồng, thời gian bán thì khoảng 10 năm nay. Ông cũng thống nhất việc bán đất cho ông C, không tranh chấp và ông C là người quản lý sử dụng nhưng chưa
4
tách thửa sang tên cho ông C được. Riêng phần đất có nhà của ông P1, bà Ú là của cha ruột ông tặng cho ông P1, bà Ú tính đến nay cũng khoảng trên 30 năm. Tuy nhiên, phần đất này vẫn còn nằm trong thửa 434 do ông đứng tên sử dụng. Thời điểm Ngân hàng thẩm định cho vay thì ông có cho Ngân hàng biết là trên đất có nhà, đất của ông P1, bà Ú và không thế chấp phần đất này.
Đối với bà Lương Thị Cẩm T là vợ của ông N1, có biết việc nhà đất thế chấp ở Ngân hàng và cũng thống với ý kiến ông N1. Bà T đi làm xa nên đề nghị Tòa án quyết vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn H trình bày:
Hiện nay ông cùng vợ là Nguyễn Thị P đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp do ông K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi thế chấp vay tiền. Nay ngân hàng khởi kiện ông K, bà N trả nợ thì ông đề nghị Ngân hàng cho thêm thời gian để ông K trả nợ vì ông K đã có hứa sẽ trả hết nợ cho Ngân hàng để lấy tài sản thế chấp ra trả lại cho gia đình.
Đối với phần nhà, đất mà ông P1 và bà Ú sử dụng là của ông nội ông tặng cho ông P1, bà Ú nhưng do trước đây điều kiện kinh tế khó khăn nên ông P1, bà Ú chưa tách giấy đất ra. Còn phần đất có chuồng heo thì ông nội ông đã bán cho người bác là Nguyễn Văn S sử dụng nhưng không có giấy tờ, không biết giá mua bán và đã mua bán trên 20 năm. Đối với cái hầm để trống thì ông đã bán cho người bác tên Nguyễn Văn C với giá 8.000.000đồng, khi mua bán không có giấy tờ và không nhớ thời điểm bán nhưng chỉ biết đã bán trên 10 năm.
Về yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thuộc thửa 434, ông H cho rằng phần đất của ông S, ông C nhận chuyển nhượng nhưng vị trí nằm phức tạp, không tách riêng ra được nên Ngân hàng có yêu cầu xử lý luôn tài sản này thì ông cũng đồng ý. Đối với phần đất mà bà Ú và ông P1 đang sử dụng đã nhận tặng cho từ ông nội và bà Ú, ông P1 đã sử dụng trên 30 nhưng do ông N1 lấy giấy tờ đất thế chấp Ngân hàng nhiều lần nên bà Ú, ông P1 không làm thủ tục tách thửa sang tên được. Vì vậy, ông đề nghị không xử lý đối tài sản của bà Ú và ông P1 đang sử dụng.
Bà Nguyễn Thị P trình bày:
Bà P thống nhất với ý kiến của chồng là ông Nguyễn Văn H.
Ông Trương Văn P1 và bà Nguyễn Thị Ú1 thống nhất trình bày:
Vào năm 2000 ông, bà có xây dựng căn nhà trên phần đất được cha tặng cho nhưng chưa tách thửa sang tên và sử dụng ổn định cho đến nay. Vào thời điểm Ngân hàng K1 thẩm định cho vay thì ông, bà có cho Ngân hàng biết nhà đất là của ông, bà nên không được thẩm định. Bên ông N1 vay tiền thì thẩm định bên nhà, đất của ông N1. Vì vậy, nếu Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp có nhà và đất của ông, bà thì ông, bà không đồng ý với yêu cầu của Ngân hàng.
5
Ông Nguyễn Văn S trình bày:
Ông có nhận chuyển nhượng phần đất của cha ruột là ông Nguyễn Văn T1 (chết năm 2000) để làm chuồng nuôi heo vào năm 1993. Do cha con trong gia đình nên hai bên không làm giấy tờ chuyển nhượng đất nhưng thực tế ông đã sử dụng từ năm 1993 cho đến nay. Giá chuyển nhượng và diện tích cụ thể bao nhiêu thì ông không còn nhớ, nhưng ông chỉ biết vị trí đất và diện tích là toàn bộ chuồng heo cũ không còn sử dụng, do diện tích đất nhỏ, thuộc một phần thửa 434 do em ruột Nguyễn Văn N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp, trong đó có phần đất của ông nhận chuyển nhượng thì ông không đồng ý.
Ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông có nhận chuyển nhượng phần đất thuộc thửa 434 của em ruột là Nguyễn Văn N1, nhưng người đứng ra chuyển nhượng là Nguyễn Văn H con ruột của ông N1. Khi nhận chuyển nhượng hai bên không làm hợp đồng chuyển nhượng mà chỉ thỏa thuận miệng, giá chuyển nhượng là 8.000.000đồng. Do diện tích đất chuyển nhượng không nhiều, hơn nữa hiện trạng đất là cái hầm nên không thể làm thủ tục tách thửa sang tên, nhưng có cắm ranh và ông là người quản lý sử dụng. Nay ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong đó có phần đất của ông nhận chuyển nhượng thì ông không đồng ý.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 162/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Không chấp nhận đối yêu cầu được phát mãi quyền sử dụng đất của ông Trương Văn P1 và bà Nguyễn Thị Ú1 đang sử dụng có diện tích 128.5m² được ký hiệu (D) trong Bản trích đo địa chính.
Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Tăng Thị Bé N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP K1 số tiền 601.738.435đồng (trong đó vốn gốc 390.000.000đồng, lãi trong hạn 54.553.699đồng, lãi quá hạn 147.543.287đồng, lãi phạt chậm trả 9.641.449đồng). Kể từ ngày 21/12/2023 bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đồng vay và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết.
Trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 708m² được ký hiệu (A), (B) và (C) trong Bản trích đo địa chính số: 1093/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (có Bản trích đo địa chính kèm theo).
6
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chổ, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự theo luật định.
Ngày 02/01/2024. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 có đơn kháng cáo xem xét sửa bản án sơ thẩm yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc được quyền yêu cầu kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự còn lại vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đương sự và Tòa án các cấp thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Việc các bên ký kết hợp đồng thế chấp tài sản thửa đất 434 với diện tích 836,5m², nhưng trên thửa đất có phần nhà và đất của ông Trương Văn P1 và bà Nguyễn Thị Ú1 có diện tích 128,5m², đã được cha mẹ ông, bà cho cất nhà sử dụng từ năm 2000, nhưng Ngân hàng không thẩm định tài sản này để xác định đúng chủ sử dụng, sở hữu hợp pháp. Hiện tại ông P1 bà Ú1 vẫn đang ở trên phần đất và không đồng ý phát mãi tài sản của bà vì khi ông K thế chấp ông bà đã không đồng ý. Do đó cấp sơ thẩm không chấp phát mãi tài sản nhà đất của ông P1 bà Ú1 là có căn cứ.
Với những ý kiến nêu trên, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP K1. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Tăng Thị Bé N; cũng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Thị Cẩm T, Nguyễn Thị P, Trương Văn P1, Nguyễn Thị Ú1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt hoặc có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 khởi kiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn K, Tăng Thị Bé N thanh toán số tiền vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín
7
dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ đúng pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bị đơn thanh toán nợ gốc và nợ lãi:
Theo hợp đồng tín dụng từng lần số: 602/21/HĐTD/0403- 8169 ngày 25/6/2021 (BL 23-24), ông Nguyễn Văn K và bà Tăng Thị Bé N có ký kết với Ngân hàng TMCP K1 có nội dung:
- Vay số tiền 650.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Vựa lúa
- Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
- Hình thức thanh toán: Lãi 6 tháng/lần, gốc trả cuối kỳ
- Lãi suất cho vay: 10.60%/năm (được điều chỉnh theo nội dung thỏa thuận trên hợp đồng).
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi cho vay;
- Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.
Sau khi Ngân hàng giải ngân xong, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông K, bà N đã thanh toán được một phần nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng cụ thể: thanh toán nợ gốc 260.000.000đồng và 14.869.057đồng nợ lãi. Do đã hết thời hạn vay nên Ngân hàng khởi kiện ông K, bà N thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 20/12/2023 là 601.738.435đồng trong đó vốn gốc 390.000.000 đồng, lãi trong hạn 54.553.699 đồng, lãi quá hạn 147.543.287 đồng, lãi phạt chậm trả 9.641.449 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng hai bên đã ký kết.
Thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, tại Bản tự khai của ông Nguyễn Văn K ngày 21/3/2023 (BL 48) có nội dung “Năm 2021 tôi có vay ngân hàng K1 với số tiền 650.000.000 đồng sau đó tôi có cho ông N1 vay lại từ số tiền tôi vay ngân hàng...”. Qua lời thừa nhận này thể hiện có việc vay tiền giữa Ngân hàng với ông K và ông K cũng đã thanh toán được một phần nợ gốc, lãi. Mặc dù không ghi nhận được ý kiến của bà Tăng Thị Bé N nhưng đây là việc vay tiền được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân, các chứng cứ mà Ngân hàng cung cấp như Hợp đồng tín dụng từng lần (BL 23-24); Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng (BL 20-22); giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ (BL 25),... đều có chữ ký của bà N. Do khoản vay đã đến thời hạn thanh toán như hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả nợ gốc, nợ lãi còn lại theo hợp đồng tín dụng mà bị đơn đã ký là đúng quy định tại Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và khoản 2 Điều 27; khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình nên khởi kiện của Ngân hàng đối với bị đơn là có căn cứ chấp nhận.
8
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản thế chấp:
Để bảo đảm cho khoản nợ vay 650.000.000đồng, ông K, bà N đã thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 836.5m², thuộc thửa 434, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông K, bà N với Ngân hàng đã được thực hiện đúng theo quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án ông K, ông N1, ông H đều xác định việc chuyển nhượng cho K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 434 chỉ nhằm mục đích vay vốn, không chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu cho ông K.
[3.1] Theo Bản trích đo địa chính số: 1093/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (BL 82) và Biên bản xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản ngày 09/8/2023 (BL 79-81). Tại vị trí [A] diện tích 631.6m² là phần đất ông Nguyễn Văn K đứng tên sử dụng, hiện ông H và bà P đang quản lý sử dụng. Phần đất tại vị trí [B] hiện ông Nguyễn Văn S đang sử dụng có diện tích 19.2m², tại vị trí [C] ông Nguyễn Văn C đang sử dụng diện tích 57.2m². Mặc dù, ông S, ông C và ông N1 đều xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông S, ông C thông qua hợp đồng chuyển nhượng nhưng các bên không có chứng cứ chứng minh thể hiện có việc chuyển nhượng. Hơn nữa khi thế chấp tài sản thì phần đất của ông S có hiện trạng là chuồng heo cũ không còn sử dụng, phần đất ông C sử dụng có hiện trạng là cái hầm trống không có tài sản trên đất và ông N1 đã không cung cấp thông tin nên khi thẩm định tài sản cho vay Ngân hàng không thể biết được hai phần đất này thuộc quyền quản lý sử dụng của ông C và ông S mà chỉ căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó trong trường hợp này Ngân hàng ngay tình khi nhận tài sản thế chấp nên được pháp luật bảo vệ. Thêm vào đó cả ông K, ông N1, ông H đều đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp này nếu ông K không trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng khởi kiện được quyền phát mãi tài sản thế chấp tại vị trí A,B,C là có cơ sở chấp nhận.
Dành quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C đối với ông Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H liên quan phần đất đã nhận chuyển nhượng tại vị trí B, C khi đương sự có yêu cầu.
[3.2] Đối với phần đất tại vị trí [D] theo Bản trích đo địa chính có diện tích 128,5m² có căn nhà kiên cố của ông Trương Văn P1 và bà Nguyễn Thị Út . Theo lời khai của ông N1, ông P1, bà Ú1 và ông H thì nguồn gốc đất ông P1, bà Ú1 đang sử dụng là nhận tặng cho trên 30 năm từ cha ruột bà Ú1 là ông Nguyễn Văn T1 (chết năm 2000) và căn nhà được xây dựng trước khi Ngân hàng nhận thế chấp này vào năm 2021. Do tài sản này đã có trước khi nhận thế chấp nên Ngân hàng buộc phải biết chủ sử dụng và phải có ý kiến của họ. Tuy nhiên, thời điểm thẩm định Ngân
9
hàng đã biết trên thửa đất 434 có 02 căn nhà, đồng thời Ngân hàng biết 01 căn ông N1 đang sử dụng, còn 01 căn nhà không rõ ai là người sử dụng và chưa có sự đồng ý của chủ sử dụng nhưng Ngân hàng vẫn đồng ý nhận thế chấp. Theo biên bản lấy lời khai của của ông P1, bà Ú1 (BL 72) thì khi cán bộ Ngân hàng khi xuống thẩm định tài sản thì bà Ú1 đã cho phía Ngân hàng biết không thế chấp phần đất và tài sản trên đất khi đó căn nhà được sử dụng để mua bán tạp hóa và những tài sản này không liên quan đến khoản vay của ông K, ông N1. Mặt khác các hình ảnh Ngân hàng cung cấp trong hồ sơ cũng không thể hiện có thẩm định tài sản là căn nhà của ông P1, bà Ú1. Xét đây là lỗi của Ngân hàng khi thực hiện việc thẩm định tài sản khi cho vay, do đó Ngân hàng không phải là bên ngay tình khi nhận tài sản thế chấp. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu và kháng cáo của Ngân hàng được phát mãi tài sản tại vị trí [D] mà ông P1 và bà Ú1 đang sử dụng.
Từ những phân tích trên thể hiện Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận phát mãi phần đất của ông P1, bà Ú1 đang sử dụng là có căn cứ, nguyên đơn kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ mới nên không có căn cứ để chấp nhận. Nên cần phải giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo qui định.
[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn K, bà Tăng Thị Bé N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 số tiền tạm tính đến ngày 20/12/2023 là 601.738.435
10
đồng (trong đó vốn gốc 390.000.000 đồng, lãi trong hạn 54.553.699 đồng, lãi quá hạn 147.543.287 đồng, lãi phạt chậm trả 9.641.449 đồng). Kể từ ngày 21/12/2023 bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đồng vay và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết.
Trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 708m² tại vị trí [A], [B] và [C] trong Bản trích đo địa chính. Phần đất thuộc thửa 434, tờ bản đồ số 03, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 732778, số vào sổ: CH03092 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 20/02/2014 cho ông Nguyễn Văn N1, ngày 16/6/2021 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K.
Không chấp nhận đối yêu cầu được phát mãi quyền sử dụng đất của ông Trương Văn P1 và bà Nguyễn Thị Ú1 đang sử dụng có diện tích 128.5m² tại vị trí [D] trong Bản trích đo địa chính.
(Kèm theo Bản trích đo địa chính số: 1093/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C)
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 5.000.000 đồng, bị đơn phải chịu. Do Ngân hàng đã tạm ứng trước 5.000.000 đồng nên bị đơn phải trả lại cho Ngân hàng 5.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu 28.069.000 đồng (Hai mươi tám triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn 17.021.541 đồng (Mười bảy triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, năm trăm bốn mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: 0005908 ngày 15/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0007422 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
11
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 20/5/2024./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nơi nhận:
| Trần Trí Dũng |
Bản án số 203/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 203/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giu y án sơ thẩm
