Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2024/DS-PT

Ngày 08-5-2024

V/v Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán:Ông Trần Quốc Vũ;

Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỷ Tiên, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 181/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Bé M, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phước L, sinh năm 1956; nơi cư trú: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  3. Người kháng cáo: Anh Huỳnh Bé M là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 5 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Huỳnh Bé M trình bày:

Năm 1995, cha mẹ anh là ông Huỳnh Văn G và bà Võ Thị H nhận chuyển nhượng từ ông Đào Ngọc L1 một phần đất ruộng diện tích 6.364 m²; toạ lạc tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh và canh tác từ đó cho đến năm 2021. Cha mẹ anh thỏa thuận mỗi người đứng tên một phần đất; trong đó, bà H đứng tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2003 diện tích 6.364 m², nhưng giao ông G là người trực tiếp canh tác.

Năm 2020, bà H làm thủ tục chuyển đo lưới phần đất 6.364 m² sang bản đồ VN-2000 thì diện tích tăng thành 6.862,3 m² do phá dở thêm đường bờ ruộng (được điều chỉnh trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Trong năm 2020, ông G chết thì bà H cho các con chung toàn bộ phần đất diện tích 6.862,3 m²; trong đó, anh được cho diện tích đất 4.000 m² và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 03-6-2021 số vào sổ cấp GCN: CS05546, đối với thửa đất số 890 diện tích 3.631,9 m² và thửa số 889 diện tích 454,1 m². Khi được cho đất, không đo đạc thực tế vì phần đất mới được chuyển diện tích theo bản đồ lưới.

Năm 2022 anh phát hiện phần đất được cho thiếu 05 m chiều ngang so với giấy chứng nhận quyền sử sụng đất được cấp, diện tích đất thiếu do ông Nguyễn Phước L đang sử dụng nên xảy ra tranh chấp. Quá trình hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã L, anh được biết vào năm 2013 ông G có thỏa thuận trả lại cho ông L 07 m chiều ngang và đã cắm 02 - 03 trụ bê tông giáp ranh đất của anh. Anh thừa nhận các trụ ranh đã cắm thì hiện nay không xê dịch hay thay đổi gì, nhưng không đồng ý việc ông G trả đất cho ông L vì bà H là người đứng tên đối với phần đất này và bà H cũng không biết việc ông G thỏa thuận trả lại đất cho ông L.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Anh M thừa nhận có biết việc ông G cấm trụ ranh từ năm 2013 trả lại đất cho ông L, nhưng khi đó không thể hiện diện tích bao nhiêu, chờ kết quả đo đạc của cơ quan chức năng nên phần đất này thực tế từ năm 2013 ông L không quản lý, mà thỉnh thoảng để đi vào phần đất ruộng; anh còn trình bày đã được cho đất canh tác cách đây khoảng 10 năm, nhưng đến năm 2021 mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay anh yêu cầu ông L trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 187,3 m², thuộc một phần thửa đất số 890/3631,9m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà anh được cấp.

Bị đơn ông Nguyễn Phước L trình bày:

Phần đất tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ ông cho ông, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1992, ông chuyển nhượng 05 công đất ruộng cho bà Vương Thị Ngọc H1 (Vương Thị H2), có làm giấy viết tay “Đơn nhượng đất ruộng gò” đề ngày 12-3-1992; được Ủy ban nhân dân xã L, huyện B xác nhận. Đến ngày 08-10-1993, bà H1 chuyển nhượng lại đất cho ông Đào Ngọc L1, hai bên viết tiếp vào “Đơn nhượng đất ruộng gò” đề ngày 12-3-1992. Đến năm 1995 vợ chồng ông L1 chuyển nhượng lại ông Huỳnh Văn G (cha ruột anh M) diện tích đất 6.364 m², có làm “Giấy bán ruộng” đề ngày 23-6-1995, được Ủy ban nhân dân xã L xác nhận.

Ông xác định khi chuyển nhượng đất cho bà H1 thì có chừa lại phần đất chiều ngang giáp mặt đường khoảng 07 m để làm đường đi vào phần đất ruộng của mình. Năm 1994, ông kê khai phần đất ruộng và được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 3-6-1994, số 00518 QSDĐ/G2; đối với diện tích 22.945 m², còn lại phần diện tích con đường thì ông không kê khai, nhưng vẫn quản lý và sử dụng để đi vào phần đất 22.945 m². Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì ông G canh tác và có xới đất lấn vào con đường này nhiều lần, nhưng đến năm 2013 ông G xới đất lấn gần hết con đường đi 07 m nên ông có nhờ Ban hòa giải ấp C, xã L giải quyết. Theo kết quả hòa giải thì ông G đã đồng ý trả lại cho ông phần đất diện tích 07 m chiều ngang x dài hết đất, có lập biên bản ngày 16-12-2013; ông, ông G ký tên và những người trong ban hòa giải ấp chứng kiến gồm: Ông Lê Văn C, ông Trang Thanh T, ông Hồ Văn B, ông Huỳnh Văn H3 và ông Trần Quốc V, ông B thay mặt ký tên; trong cùng ngày, ông và ông G cắm 04 trụ bê tông ở tứ cận giáp ranh; các bên tiếp tục sử dụng đất từ đó cho đến nay, các trụ ranh không xê dịch hay thay đổi.

Năm 2022, ông làm thủ tục cấp giấy đất đối với phần con đường đi này thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B trả lời phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Tiến D thửa đất số 619 và anh Huỳnh B1 Mười thửa 890. Ông không chứng kiến việc đo đạc hay ký giáp ranh khi bà H chuyển đổi phần đất sang bản đồ lưới và khi bà H cho đất các con; phần đất tranh chấp do ông quản lý, sử dụng nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh M; đề nghị công nhận phần đất tranh chấp cho ông và điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh M.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh quyết định:

Căn cứ các Điều 100, 166, 170, 203 của Luật Đất đai; Điều 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Điều 147, 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Bé M đối với ông Nguyễn Phước L về việc tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất có diện tích 187,3 m², tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Ông Nguyễn Phước L được sử dụng phần đất có diện tích 187,3 m², thuộc một phần thửa đất số 890/3.631,9m², tờ bản đồ số 9, tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh (bản đồ VN-2000) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 507460 do ông Huỳnh Bé M đứng tên. Phần đất có tứ cận:

  • + Phía Bắc giáp thửa đất số 890 dài 40,37 m;
  • + Phía Nam giáp thửa đất số 619 dài lần lượt 1,06 m; 35,00 m; 2,43 m và 1,59 m;
  • + Phía Tây giáp đường nhựa dài 5,39 m;
  • + Phía Đông giáp thửa đất số 649 dài 3,03 m.

(Có sơ đồ đo đạc kèm theo).

  1. Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh biến động phần diện tích 187,3 m² nêu trên từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Huỳnh Bé M sang cho ông Nguyễn Phước L theo bản án như phần quyết định đã tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 05-02-2024 anh Huỳnh Bé M kháng cáo kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Anh Huỳnh Bé M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Anh Huỳnh Bé M, ông Nguyễn Phước L không tranh luận.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

  • + Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
  • + Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào khác nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các đương sự thống nhất với sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T1 được Phòng Tài nguyên và Môi trường Huyện B thẩm định ngày 13-9-2023, thể hiện: Phần đất tranh chấp có diện tích 187,3 m² thuộc một phần thửa đất số 890/3.631,9 m², tờ bản đồ số 9; toạ lạc tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có tứ cận:

  • - Phía Bắc giáp thửa đất số 890 dài 40,37 m;
  • - Phía Nam giáp thửa đất số 619 dài: 1,06 m + 35,00 m + 2,43 m + 1,59 m.
  • - Phía Tây giáp đường nhựa dài 5,39 m;
  • - Phía Đông giáp thửa đất số 649 dài 3,03 m.

[2.2] Căn cứ vào dữ liệu đất đai do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp; lời trình bày thống nhất của các đương sự; của những người đã tham gia giao dịch chuyển quyền sử dụng đất liên quan đến phần đất tranh chấp trên, gồm: Bà Vương Thị Ngọc H1 (tên gọi khác: H2), sinh năm 1956, nơi cư trú: Ấp X, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh (bút lục số 80, số H); ông Đào Ngọc L1, sinh năm 1963, nơi cư trú: Ấp X, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh (bút lục số 79); có cơ sở xác định: Đất tranh chấp có nguồn gốc là của ông Nguyễn Phước L, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngày 12-3-1992 ông L chuyển nhượng cho bà Vương Thị Ngọc H1 05 công đất (không đo đạc cụ thể) bằng giấy viết tay “Đơn nhượng đất ruộng gò” (bút lục số 111). Bà H1, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đến ngày 08-10-1993 bà H1 chuyển nhượng 05 công đất này lại cho ông Đào Ngọc L1, ông L1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03-6-1994 với diện tích 6.364 m², các thửa số: 956, 957, 1030, 1031, 1032, 1033, 1034; tờ bản đồ số 5. Đến ngày 23-6-1995 vợ chồng ông L1, bà Trần Thị V1 chuyển nhượng diện tích đất này cho ông Huỳnh Văn G (chết 2020), là cha của anh Huỳnh Bé M, bằng “Giấy bán ruộng”. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông G, bà Nguyễn Thị H4 thỏa thuận giao cho bà H4 đứng tên và bà H4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23-7-2003, diện tích 6.364 m², các thửa số: 956, 957, 1030, 1031, 1032, 1033, 1034; tờ bản đồ số 05. Sau đó, ngày 31-7-2020 Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận chỉnh lý chuyển sang bản đồ lưới địa chính chính quy hệ toạ độ VN-2000 tăng diện tích thành 6.862,3 m², các thửa số: 192, 211, 235, 261, tờ bản đồ số 09; đến ngày 30-11-2020 hợp thành thửa 882 và tách thành các thửa: 883, 884, 885, 886, 887, 888, 889 và 890; ông G chết; bà H4 và các con lập văn bản thoả thuận phân chia tài sản thừa kế ngày 26-01-2021, trong đó anh Huỳnh Bé M được chia 4.000 m² đất và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 03-6-2021 số vào sổ cấp GCN: CS05546, đối với thửa đất số 890 diện tích 3.631,9 m² và thửa số 889 diện tích 454,1 m².

[2.3] Bà Võ Thị H, anh Huỳnh Bé M đều xác định quá trình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi nhận chuyển nhượng; thực hiện thủ tục chỉnh lý chuyển sang bản đồ lưới địa chính chính quy hệ toạ độ VN-2000; thực hiện thủ tục hợp thửa, tách thửa để phân chia di sản thừa kế và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho anh M; chỉ thực hiện trên giấy tờ, không đo đạc thực địa, không ký với chủ đất giáp ranh; điều này phù hợp với kết quả xác minh đối với ông Nguyễn Chí L2, là địa chính xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh (bút lục số 139) và dữ liệu đất đai liên quan do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp (từ bút lục số 84 đến bút lục số 102).

[2.4] Về quá trình quản lý sử dụng đất: Ông L sử dụng đất tranh chấp làm lối đi vào ruộng ở phía sau của mình từ năm 1992, không ai tranh chấp, ngăn cản; đến năm 2013 do ông G xới đất gần hết con đường nên giữa ông G và ông L xảy ra tranh chấp, được Ban hòa giải ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh giải quyết; kết quả ông G đồng ý trả lại cho ông L 07 m ngang đất; có cắm 04 trụ bê tông ở tứ cận và giáp ranh đất ông G; được lập biên bản vào ngày 16-12-2013 có ông L, ông G và ông Hồ Văn B (đại diện ban hoà giải) ký và ghi tên. Tình tiết sự kiện này đều được Ban hòa giải ấp C, xã L tại thời điểm đó xác nhận là đúng, gồm: Ông Lê Văn C (cán bộ địa chính xã); ông Trần Quốc V (trưởng ban công tác mặt trận), ông Hồ Văn B (bí thư chi bộ ấp); anh M, bà H cũng thừa nhận biết sự việc cắm trụ bê tông tại ranh đất và mốc giới vẫn tồn tại trên thực địa; do đó, đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, phản ánh thực tế khách quan; được xác định là chứng cứ có giá trị chứng minh sự phản đối của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bà H, anh M cho rằng biết sự việc tranh chấp giữa ông L và ông G năm 2013, nhưng khi đó giao cho ông G giải quyết vì đất do ông G canh tác và không biết kết quả giải quyết như thế nào, do ông G không nói nhưng thấy trên đất của mình tồn tại các mốc giới ngăn cách từ năm 2013 và người khác sử dụng đất nhưng không có ý kiến, ngăn cản hay tranh chấp mà chỉ đến khi ông G mất, anh M được chia thừa kế và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới xảy ra tranh chấp là không đúng thực tế nên không chấp nhận.

[3] Như vậy, thấy rằng mặc dù diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất được cấp quyền sử dụng đất cho anh M nhưng thực tế ông L quản lý, sử dụng đất ổn định; đến thời điểm năm 2013 giữa ông L và ông Huỳnh Văn G (cha của nguyên đơn) đã tự nguyện thoả thuận ranh giới, cắm mốc giới giữa các bất động sản liền kề theo quy định tại các Điều 265, 266 của Bộ luật Dân sự năm 2005, các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các bên đã quản lý, sử dụng theo ranh xác định từ năm 2013 đến tháng 6 năm 2023 mới phát sinh tranh chấp; đây là các cơ sở để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Huỳnh Bé M nên giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên, cần bổ sung thêm điều luật áp dụng trong phần quyết định.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh M không được chấp nhận nên anh M phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các Điều 100, 166, 170, 203 Luật Đất đai; các Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 265, 266 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 147, 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Bé M đối với ông Nguyễn Phước L về việc tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất diện tích 187,3 m², toạ lạc tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Ông Nguyễn Phước L được sử dụng phần đất có diện tích 187,3 m², thuộc một phần thửa đất số 890/3.631,9 m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh (bản đồ VN-2000) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 507460 do ông Huỳnh Bé M đứng tên. Phần đất có tứ cận:

  • + Phía Bắc giáp thửa đất số 890 dài 40,37 m;
  • + Phía Nam giáp thửa đất số 619 dài lần lượt 1,06 m; 35,00 m; 2,43 m và 1,59 m;
  • + Phía Tây giáp đường nhựa dài 5,39 m;
  • + Phía Đông giáp thửa đất số 649 dài 3,03 m.

(Có sơ đồ đo đạc kèm theo).

  1. Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh biến động phần diện tích 187,3 m² nêu trên từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của anh Huỳnh B1 Mười sang cho ông Nguyễn Phước L theo bản án như phần quyết định đã tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Huỳnh Bé M phải chịu 8.000.000 (tám triệu) đồng, ghi nhận đã nộp và chi phí xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Bé M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, cho khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0023112 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Ông Nguyễn Phước L không phải chịu án phí.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Huỳnh Bé M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ghi nhận anh M đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo tại Biên lai thu số 0012122, ngày 05-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; được khấu trừ; Anh M nộp xong án phí phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND. TTN;
  • - TAND huyện Bến Cầu;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Cầu;
  • - Phòng KTNV&THA. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 203/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu ông Lăng trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 187,3 m2, thuộc một phần thửa đất số 890/3631,9m2, tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại ấp Cao Su, xã Long Giang, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà anh được cấp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger