Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2024/DS- PT

Ngày: 18/9/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, ông Nguyễn Việt Hùng

-Thư ký phiên toà:

Bà Trần Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang:

Ông Nguyễn Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 125/2024/TLPT-DS ngày 20/8/2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12A/2024/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 192/2024/QĐ-PT ngày 23/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 334/2024/QĐ-PT ngày 06/9/2024 giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A năm 1962 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

  1. Bà Ong Thị T phòng luật sư Vũ A1 Hđịa chỉ: Số D đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang(có mặt).
  2. Bà Ngô Thị T1 phòng luật sư Vũ A1 Hđịa chỉ: Số D đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang(vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q năm 1978 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Bạch Thị M năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang(vắng mặt).
  2. Bà Chu Thị C năm 1938; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang(vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn D năm 1940; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang(vắng mặt).
  4. Cụ Ngụy Thị M1sinh năm 1934; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang(vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Văn P năm 1962; địa chỉ: Số H, P, khối Đ, phường C, thành phố L(vắng mặt).
  6. Chị Vũ Thị T2 năm 1974; địa chỉ: Số H, P, khối Đ, phường C, thành phố L(vắng mặt).
  7. Ủy ban nhân dân thị trấn T, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Văn G tịch UBND thị trấn T26, địa chỉ: Thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang(vắng mặt).

  1. Ủy ban nhân dân huyện Y

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Phòng Thị NPhó trưởng phòng T27(vắng mặt).

  1. Sở T28

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Duy T3 đốc Sở T28

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Tạ Văn T4 giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai huyện Y (vắng mặt).

Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Q năm 1978 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 12A/2024/DS-ST ngày 31/5/2024, các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn A2 bày:

Ông là chủ sở hữu hợp pháp thửa đất số 349 (diện tích 183,5m² tờ bản đồ 08 đo vẽ năm 2002, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072170 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018, tên người sử dụng đất ông Nguyễn Văn A3 thửa 351 tờ bản đồ số 8 (diện tích 156m² đo vẽ năm 2002, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072169 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018, tên người sử dụng đất ông Nguyễn Văn A4), cả hai thửa đất đều có địa chỉ tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang). Nguồn gốc hai thửa đất nêu trên do ông được cụ Ngụy T5 M1là mẹ đẻ tặng cho theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân T29 thực ngày 06/11/2018. Cụ thể: Thửa đất 349, tờ bản đồ số 08 trước đây là một phần của thửa đất số 259, tờ bản đồ số 07 tại Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc GiangCòn thửa đất số 351, tờ bản đồ số 08 thì trước đây là một phần của thửa đất số 260, tờ bản đồ số 07 tại tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc GiangCả thửa đất số 259 và 260 này là do Hợp tác xã T9cấp (giao sử dụng lâu dài làm đất ở) từ năm 1967 cho bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn T6(đã mất năm 2001) và cụ Ngụy Thị M1 đất có tứ cạnh như sau: Phía Đông: giáp đường đi chính của thôn; Phía Bắc: giáp đường ngõ; Phía Tây: giáp đất nhà ông N1và đất nhà ông Q1Phía N: giáp đất nhà ông D1 đất nhà ông T6

Khi bố mẹ ông (cụ T5cụ M1ra ở trên đất này thì hộ gia đình ông Nguyễn Văn D2 Chu Thị C1 chưa ra ở. Đến năm 1972-1973 thì ông Dbà C2 ra ở thửa đất liền kề (phía Nam) của thửa đất của nhà ông. Khi hộ nhà ông D3 xuống thửa đất giáp nhà ông thì trên đất nhà ông D4 đó có nhà tập thể của trại chăn nuôi. Ông D(bố đẻ anh Q1 nhà tập thể của trại chăn nuôi này đi, chỉ giữ lại nền nhà và móng nhà và xây tường lên, lợp mái thành nhà ngang. Bức tường sau của nhà ngang này quay lưng sang nhà ông, cách chân tường khoảng 10cm – 15cm để giọt ranh chảy là ranh giới phân chia giữa đất nhà ông và nhà ông DNhà ngang này hiện nay vẫn còn.

Từ khi đó, ranh giới đất giữa hộ gia đình ông và đất hộ ông Dbà C3 hộ ông T6là đường thẳng, kéo dài từ mặt đường thôn xuống hết đất nhà ông. Giữa hai bên đã cắm mốc và lập hàng rào ngăn cách bằng tre, kéo thẳng ngăn đất giữa các hộ. Sau này khi xây bếp, làm sân giếng thì ông D6 xây thẳng dọc theo ranh giới đất hai nhà (theo ranh giới được lập sau tường nhà ngang nói trên).

Năm 1998 - 1999, địa phương tổ chức đo vẽ, lập hồ sơ địa chính từng thửa đất ở của mỗi gia đình thì cả hộ gia đình ông (đại diện là bố ông là cụ Nguyễn Văn T7 hộ gia đình ông D(do ông D7 diện) cùng tham gia chỉ mốc giới cho cán bộ đo đạc. Sau khi có kết quả đo đạc, lập hồ sơ thửa đất xong thì từng hộ đã nhận và thống nhất ký xác nhận về ranh giới đất với các hộ xung quanh tại Bản trích đo của từng thửa đất của mỗi hộ. Bản trích đo này được lưu trữ trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất.

Khi đó, mảnh đất của bố mẹ ông được UBND xã chia thành 02 thửa là thửa số 259 diện tích 714m² và thửa số 260 diện tích 329m². Đất nhà ông D6 được chia thành 2 thửa là thửa số 261 diện tích 286m² và thửa số 262 diện tích 544m².

Trong hồ sơ thửa đất của hộ gia đình ông (hộ cụ Nguyễn Văn T8 giáp ranh với hộ ông Nguyễn X D1thể hiện là một đường thẳng từ ngoài đường kéo vào, có ký hiệu là GG/D, trong đó đoạn GG/ có chiều dài 13m và đoạn Glcó chiều dài là 22m. Ông D1đã ký xác nhận ranh giới vào Hồ sơ thửa đất của gia đình ông vào ngày 02/5/1999. Bố ông là cụ Nguyễn Văn T9 ký xác nhận ranh giới vào Hồ sơ thửa đất của hộ ông D1vào cùng ngày 02/5/1999.

Đến ngày 17/10/1999, hộ gia đình ông đã được UBND huyện Ycấp Giấy chứng nhận QSD đất số Q324095, số vào sổ cấp giấy: 00717QSDĐ/320QĐ/UB-H, tên chủ sử dụng là Hộ ông Nguyễn Văn T10 diện tích đất 1043m² được chia thành 02 thửa là thửa 259 có diện tích 714m² và thửa 260 có diện tích 329m². Hộ ông D1cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với thời điểm của gia đình ông. Đến năm 2018 thì ông D1chuyển quyền sử dụng đất sang cho con trai là anh Nguyễn Văn Q2

Quá trình sử dụng đất từ khi hộ ông D1chuyển ra ở là năm 1969 đến khi hai hộ thống nhất ký xác nhận ranh giới tại trích đo hồ sơ thửa đất vào tháng 5/1999 thì các bên không có tranh chấp về ranh giới đất. Tuy nhiên,từ sau khi bố ông (cụ T5mất) hộ gia đình ông D1khi xây lại một số công trình phụ đã lấn sang thửa đất nhà ông, phần ranh giới giữa hai nhà là đường thẳng thì khi xây đoạn tường này ông D1đã lấn đất, xây thành đoạn tường cong lồi hẳn sang vườn nhà ông.

Do đất nhà ông bị trũng, dốc, mẹ ông (cụ M1có khơi một rãnh nước (nằm trong phần đất của gia đình ông) để nước chảy ra mương nhưng sau đó ông Dlông T6(hộ phía trong) đã đào cống, xả nước thải sang rãnh nước này. Năm 2019, vợ chồng anh Qchị M2(con trai và con dâu ông D1khi xây nhà kho, nhà để xe, xây thêm tường bao đã lấn sang một phần sang đất của gia đình ông, trổ cửa để mở đi sang vườn nhà ông.

Tại Đơn khởi kiện, ông đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc hộ ông Nguyễn Văn Q3 tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng liên quan để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm tại thửa 349 tờ bản đồ số 8 là 7,5m² (hiện nhà anh Q4 nhà để xem và tường bao) và thửa 351 tờ bản đồ số 8 là 6,12m² (anh Q4 tường bao, trổ cửa đi sang đất nhà ông); buộc hộ ông Q5, chấm dứt việc xả thải nước sinh hoạt qua phần diện tích sử dụng đất của gia đình ông, xây lắp kín cửa đã mở để tự do đi lại qua phần đất nhà ông,

Quá trình giải quyết vụ án, sau khi có kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang trong vụ án tranh chấp ranh giới đất giữa mẹ ông là cụ Ngụy Thị M1với gia đình anh Q6 thay đổi yêu cầu khởi kiện: Buộc hộ gia đình anh Q3 trả diện tích 4,7m² đã lấn chiếm tại thửa 349, tờ bản đồ số 8, được ký hiệu là D3XY, trên phần diện tích 4,7m2 (D3XY), hiện có đoạn tường bao do gia đình anh Q4 là có chiều dài: 1+1,6+0,9+0,7= 4,6m (đoạn D3X) và 01 bụi cây xanh tự mọc, không có giá trị, khi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2021 các bên đều không yêu cầu xem xét, định giá. Ngoài ra, trên phần diện tích đất lấn này, hộ ông Q7 ống thoát nước thải sinh hoạt chảy tự do sang đất nhà ông, gây mất vệ sinh và ảnh hưởng đến gia đình ông. Do vậy, ông đề nghị Tòa án buộc thóa dỡ tường bao và di dời đường ống thoát nước thải ra khỏi nhà ông.

Phần diện tích đất lấn sang thửa 351 tại vị trí ký hiệu EB3 là 0,9m². Tại phần diện tích 0,9m² này, hiện anh Q8 xây tường nhà để xe vào (thời gian xây vào năm 2019, khi hai bên đã phát sinh tranh chấp và chưa được giải quyết). Tuy nhiên, do việc xây dựng đã ổn định, không ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng đất của gia đình ông tại vị trí này nên đến nay ông xin rút yêu cầu khởi kiện đối với phần lấn chiếm này, không đề nghị anh Q3 trả lại phần diện tích đất cũng không buộc tháo dỡ tài sản trên phần diện tích này nữa. Đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu trên của ông.

Tại biên bản lấy lời khai và các lời khai tại Tòa án, bị đơn là ông Nguyễn Văn Q9 bày:

Về thành viên trong hộ gia đình anh gồm có bố anh là Nguyễn Văn D năm 1940, mẹ anh là Chu Thị C năm 1938, anh là Nguyễn Văn Q năm 1979, vợ anh là Bạch Thị M năm 1986 và hai con của anh còn nhỏ.

Năm 1999 gia đình anh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số 00573 đối với thửa 261 và thửa đất 262, có diện tích là 857m² mang tên hộ ông Nguyễn X D1mục đích sử dụng là đất ở, đất vườn và đất ao. Nguồn gốc thửa đất do bố mẹ anh được hợp tác xã giao đất từ khoảng năm 1960, bố mẹ anh sử dụng đất ổn định từ khi được giao đất và đã xây dựng nhiều công trình trên đất. Năm 2018, bố anh làm thủ tục phân chia quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích trên cho anh là Nguyễn Văn Q2

Trên thửa đất 351 ông A5 cho rằng gia đình anh lấn chiếm phần anh có xây 01 nhà để xe vào năm 2019. Lúc xây anh phá bờ tường rào để xây, xây đúng trên móng cũ của bờ tường rào (bờ tường rào có từ năm 1990). Việc này thể hiện anh không lấn chiếm của ông A6 chỉ xây trên nền bờ rào cũ. Khi xây ông A7 tranh chấp có báo chính quyền địa phương nhưng không có văn bản giải quyết nào cũng không có việc đình chỉ nào vì anh xây đúng phần đất của gia đình anh.

Trên thửa đất 349 ông A5 cho rằng gia đình anh lấn chiếm thì anh có xây tường rào xây gạch. Tường rào xây gạch này xây lại từ tường cay có từ những năm 2000 nhưng không có tranh chấp gì. Giáp ranh giữa đất của nhà anh và nhà ông A8 M1có 01 rãnh nước chung của thôn chảy từ trên núi xuống, có từ thời xa xưa.

Năm 2002, UBND thị trấn T tiến hành đo vẽ lại toàn bộ bản đồ địa chính chính quy, trên bản đồ địa chính chính quy thể hiện rõ hiện trạng sử dụng của các hộ và thể hiện rõ đoạn cong (ở thửa 349). Bên cạnh đó, năm 2018, bà Ngụy Thị M3 tiến hành tách thửa và tặng cho một phần đất cho hai con trai là Nguyễn Văn A3 Nguyễn Văn PSau khi tặng cho ông A9 ông A10 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng mang tên ông A11 với diện tích được tặng. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông A10 cấp năm 2018 đã thể hiện rõ hiện trạng sử dụng và đường cong giáp ranh với nhà anh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này được cấp theo bản đồ địa chính chính quy năm 2002. Bà Mlông A12 đồng ý với việc cấp sổ mới và tách thửa này mà nay vẫn khởi kiện anh lấn chiếm đất của ông A13 không đúng. Do vậy, anh không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông A

Chị Bạch Thị M trình bày:

Năm 2011 chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Q10 về làm dâu tại gia đình, chị thấy có phần diện tích giáp ranh giữa nhà chị và nhà bà Ngụy Thị M5 một máng nước rộng chung giữa các nhà vẫn dùng để thoát nước chung. Đến năm 2012, gia đình chị xây xong công trình vệ sinh thì bà M1cho con cháu lấp máng nước chảy chung (lúc xây không xảy ra vấn đề gì). Sau đó nhà chị có nhờ UBND xã về làm chứng và hòa giải. Năm 2015-2016, ông A13 con trai bà M1xây nhà kiên cố trên đất ao (vườn nhà bà M1phần móng nhà có xây vào phần máng nước. Năm 2019, gia đình xây nhà để xe trên móng cũ có sự chứng kiến của trưởng thôn và gia đình nhà bà M1các hộ xung quanh. Ông A14 kiện anh Q11 chị không đồng ý với yêu cầu của ông A15 gia đình không lấn chiếm đất của ai. Đề nghị Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn Dbà Chu Thị C4 nhất trình bày:

Vợ chồng ông bà được hợp tác xã chia cho mảnh đất diện tích 857m² tại thôn K, xã T, huyện Y (nay là tổ dân phố K, thị trấn T các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Tây giáp hộ ông Nguyễn Văn T11 Đông giáp đường bê tông của thôn, phía Nam giáp đường bê tông của ngõ, phía Bắc giáp hộ nhà ông Nguyễn Văn A16 năm 1999, gia đình ông, bà được UBND huyện Ycấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00573 ngày 17/10/1999 đối với thửa đất số 262 và 261, tờ bản đồ số 7 có diện tích 857m² có địa chỉ tại Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, tên người sử dụng đất hộ ông Nguyễn Xuân D8. Ngày 22/11/2018, ông, bà làm thủ tục tặng cho anh Nguyễn Văn Q12 thửa đất nêu trên theo hồ sơ số 2051/2018.

Gia đình ông bà sử dụng ổn định, lâu dài các thửa đất nêu trên từ năm 1969, năm 1970 đến năm 2012 thì xảy ra tranh chấp với gia đình hộ ông A17 hai gia đình có làm đơn gửi lên UBND thị trấn T giải quyết nhưng không có kết quả.

Giữa thửa đất của gia đình ông bà (nay là của anh Q10 gia đình bà M6(nay là bà Mlông Acó một rãnh nước chảy chung của cả xóm rộng khoảng 1m. Khoảng năm 1969-1970 gia đình ông, bà có xây một ngôi nhà ngói cấp 4, giáp với rãnh nước và có cách rãnh nước của xóm khoảng 30cm, khi xây thì gia đình bà M1không có ý kiến gì. Đến năm 2012, gia đình ông, bà có xây nhà vệ sinh và xả thải ra rãnh nước chung thì từ đó hai gia đình xảy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân là do nhà bà M1không cho nhà ông, bà xả nước thải ra rãnh nước chung. Năm 2019, anh Q13 xây nhà để xe, nhà kho tiếp giáp với hộ ông Nguyễn Văn A4(con trai bà M1thì ông A7 làm đơn gửi ra UBND thị trấn Tvà gửi đơn khởi kiện ra Tòa án. Ông, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông A18 vì anh Q14 lấn chiếm đất của ai. Đề nghị Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Ngụy Thị M7 bày:

Bà là mẹ đẻ của ông Nguyễn Văn A19 1967 bà và chồng bà ông Nguyễn Văn T12 hợp tác xã giao cho tổng diện tích đất khoảng hơn 1000m2, địa chỉ thửa đất tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc GiangNăm 1999, nhà nước lập bản đồ địa chính đối với đất ở thuộc thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc GiangKhi đó, mảnh đất của gia đình bà sử dụng được ghi nhận chia ra làm hai thửa là thửa đất số 259, tờ bản đồ số 07, diện tích 714m² và thửa đất số 260, tờ bản đồ số 07, diện tích 329m², địa chỉ thửa đất ở Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

Cuối năm 2018, bà làm thủ tục tách thửa đất số 259 ra làm 3 thửa khác nhau gồm thửa đất số 347, diện tích 376,2m² do bà làm chủ sử dụng. Thửa đất số 348, diện tích 154,3m², thửa đất này bà đã tặng cho con trai Nguyễn Văn PThửa đất số 349, diện tích 183,5m², thửa đất này bà đã tặng cho con trai Nguyễn Văn AThửa 260 tờ bản đồ 07 (1993) bà tách thành 02 thửa đất gồm: thửa 350, tờ bản đồ 08 diện tích 173 m² đất bà tặng cho con trai con dâu bà là Nguyễn Văn Pvà Vũ Thị T13(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072172 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bcấp ngày 07/12/2018) và thửa 351, tờ bản đồ 08 diện tích 156m² đất ở bà tặng cho con trai Nguyễn Văn A4(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072170 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018).

Từ năm 2001 đến năm 2018 (trước thời điểm bà tách thửa tặng cho các con đất) giữa gia đình bà và gia đình ông Dlanh Qđã phát sinh tranh chấp nhiều lần, được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Năm 2018, khi bà tiến hành tách thửa tặng cho đất cho các con, cán bộ địa chính yêu cầu bà cung cấp xác nhận ranh giới của thửa 259, 260 tờ bản đồ 07 với các hộ hàng xóm giáp ranh với gia đình bà thì bà cung cấp bản xác nhận ranh giới giữa gia đình bà với các hộ xung quanh giáp đất nhà bà năm 1999.

Về yêu cầu khởi kiện của ông A20 đề nghị Tòa án xác minh, làm rõ, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P1 Vũ Thị T2 thống nhất trình bày:

Ông bà là con trai, con dâu của cụ Nguyễn Văn T7 cụ Ngụy Thị M8 là em trai, em dâu của ông Nguyễn Văn A4

Bố mẹ ông có 02 thửa đất là thửa 259 và thửa số 260 tờ bản đồ số 07 đã được UBND huyện Ycấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q324095 ngày 17/10/1999 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T14 2018 thì mẹ ông bà là cụ M1tiến hành tách thửa và tặng cho ông bà và ông A11 với 02 thửa đất như cụ M1trình bày là đúng. Theo đó vợ chồng ông, bà đứng tên quyền sử dụng 02 thửa đất 348 và 350 tờ bản đồ số 8 tại tổ dân phố K, thị trấn tân A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

Về giáp ranh của 2 thửa đất ông bà đang đứng tên chủ sử dụng nêu trên thì cạnh phía Nam của thửa 348 tiếp giáp với cạnh hướng Bắc của thửa 349 của ông Nguyễn Văn A21 hướng Nam của thửa 350 nhà tiếp giáp với cạnh hướng Bắc thửa 351 của ông Nguyễn Văn A22 thửa đất này của ông bà không có phần nào giáp ranh với đất của hộ anh Nguyễn Văn Q15 từ khi mẹ ông bà làm thủ tục tách thửa và tặng cho cho vợ chồng ông bà diện tích đất tại thửa 348 và 350 (năm 2018) đến nay thì giữa vợ chồng ông bà, mẹ ông bà (cụ Ngụy Thị M1và ông Nguyễn Văn A23 dụng ổn định, không có tranh chấp gì về ranh giới giữa các thửa đất nêu trên. Về việc tranh chấp đất giữa anh Nguyễn Văn Q16 Nguyễn Văn A24 do vợ chồng ông bà đi làm ăn sinh sống xa quê nhiều năm nên ông bà không nắm rõ cụ thể ra sao, ông bà chỉ nghe cụ M1và ông A25 lại là có việc gia đình anh Q17 chiếm đất của gia đình từ những năm 2012, và hiện nay anh Q18 đang lấn chiếm một phần diện tích đất của các thửa 347 do bà M1được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thửa 349 và 351 do ông A10 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có liên quan gì đến diện tích đất thửa 348 và 350 của vợ chồng ông, bà. Ông A14 kiện ông Q6 bà đã nắm được nội dung, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thị trấn T:

Về nguồn gốc đất đối với thửa đất nhà ông Nguyễn Văn Q19 được UBND huyện Ycấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00573 QSDĐ/320 QĐ/UB-H ngày 17 tháng 10 năm 1999 đối với thửa số 262 và 261, tờ bản đồ số 7 có diện tích sử dụng 857m², trong đó 360m2 đất ở, 211m² đất vườn và 286m² đất ao mang tên hộ ông Nguyễn Xuân D8(bố ông Q20 đất có địa chỉ tại Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc GiangNăm 2018, ông Nguyễn Xuân D9 phân chia quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Q21 hồ sơ 2051/2018 đối với toàn bộ thửa đất trên. Thửa đất nhà ông Q13 các vị trí tiếp giáp như sau: Phía Tây giáp hộ ông Nguyễn Văn T11 Đông giáp đường bê tông của thôn; phía Nam giáp đường bê tông của ngõ; phía Bắc giáp hộ nhà ông Nguyễn Văn A26 trình sử dụng đất gia đình ông Nguyễn X D1sử dụng ổn định, lâu dài không có tranh chấp.

Về nguồn gốc đất đối với thửa đất 349 và 351 của ông Nguyễn Văn A27 có tranh chấp với anh Nguyễn Văn Q22 gốc là bố đẻ ông A13 cụ Nguyễn Văn T7 mẹ đẻ ông A13 cụ Ngụy Thị M3 được UBND huyện Ycấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN Q324095 ngày 17/10/1999 đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 7 có diện tích 714m² có địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangmang tên hộ ông Nguyễn Văn T7 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN Q324095 ngày 17/10/1999 và đối với Thửa đất số 260, tờ bản đồ số 7 có diện tích 329m² có địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T ( N là thị trấn T), huyện Y, tỉnh Bắc Giangmang tên hộ ông Nguyễn Văn T6

Thửa đất nhà ông Nguyễn Văn T15 các vị trí tiếp giáp như sau:Phía Tây giáp rãnh thoát nước chung của tổ dân phố K giáp đường bê tông của tổ dân phố K giáp hộ nhà ông Nguyễn Văn D10 Bắc giáp hộ đường bê tông ngõ của tổ dân phố K

Năm 2018 thì mẹ ông A28 hành tách thửa và làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên như sau:

  • -Thửa 259 tờ bản đồ 07 (1993) tách thành 03 thửa đất gồm:
    • + Thửa 347, tờ bản đồ 08 diện tích 170m² đất ở, và 206,2m² đất trồng cây lâu năm do mẹ ông A13 cụ Ngụy Thị M1đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072173 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018.
    • +Thửa 348, tờ bản đồ 08 diện tích 154,3m² đất ở, do vợ chồng ông Nguyễn v Plvà Vũ Thị T2đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072171 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018.
    • +Thửa 349, tờ bản đồ 08 diện tích 183,5 m, do ông Nguyễn Văn A29 tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072169 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018.
  • - Thửa 260 tờ bản đồ 07 (1993) tách thành 02 thửa đất gồm:
    • + Thửa 350, tờ bản đồ 08 diện tích 173m² đất ở do vợ chồng ông Nguyễn Văn P2 Vũ Thị T2đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072172 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018.
    • + Thửa 351, tờ bản đồ 08 diện tích 156m² đất ở, do ông Nguyễn Văn A29 tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 072170 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ngày 07/12/2018.

Về giáp ranh của 2 thửa ông A27 đứng tên chủ sử dụng nêu trên cụ thể như sau:

- Thửa 349, tờ bản đồ số 8 có diện tích 183,5m² trong đó có 100m² là đất ở và 83,5m² đất trồng cây lâu năm mang tên Nguyễn Văn A30 các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp thửa 351 của ông A31 Tây giáp thửa 347 của cụ Ngụy Thị M9(mẹ đẻ ông A31 bắc giáp đất của anh Nguyễn Văn P3(em trai ông A31 Nam giáp đất của anh Nguyễn Văn Q23

- Thửa 351, tờ bản đồ số 8 có diện tích 156m² là đất nuôi trồng thủy sản, mang tên Nguyễn Văn A30 các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp đường bê tông của tổ dân phố K, thị trấn T giáp thửa 349 của ông A31 Bắc giáp thửa đất 350 của anh Nguyễn Văn P3(em trai ông A31 Nam giáp đất của anh Nguyễn Văn Q2

Giữa thửa đất nhà ông A3 ông Q13 một rạch nước chung của cả tổ dân phố Kđã tồn tại từ rất lâu. Rạch nước chung có từ trước những năm 1992, nhưng trên bản đồ địa chính chính quy năm 1993, 2002 đều không thể hiện rãnh nước chung này nên không biết chính xác là diện tích của rãnh thoát nước chung này nằm vào diện tích nhà ai. Quá trình sử dụng đất đến năm 2012 thì giữa gia đình bà Mlông Acó xảy ra tranh chấp với hộ ông QUBND thị trấn T(nay là UBND thị trấn Tđã giải quyết nhiều lần nhưng không có kết quả.

Ông Nguyễn Văn A32 đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn Q24 việc tranh chấp quyền sử dụng đất, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào việc thẩm định tại chỗ hiện trạng sử dụng đối với thửa đất của từng hộ; căn cứ vào sổ địa chính, hồ sơ thửa đất, bản đồ địa chính và căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của từng hộ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Đối với thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn T5ông Nguyễn Văn D11 năm 1999 đã thực hiện đúng quy định pháp luật và các hộ đã sử dụng nhiều năm không ai có khiếu nại, khiếu kiện gì đối với thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Đối với thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngụy Thị Mlông Nguyễn Văn A33 2018 là thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện Y:

Đối với thửa đất của ông Nguyễn Văn A30 nguồn gốc như sau: Ông Nguyễn Văn T5và bà Ngụy Thị M10 bố mẹ của ông Nguyễn Văn A23 dụng xây dựng nhà ở ổn định từ nhiều năm trước (trước năm 1993). Năm 1992, xã T đo đạc bản đồ địa chính, thửa đất được đo vẽ là thửa số 259, tờ bản đồ 07, diện tích 714m² và thửa đất số 260 tờ bản đồ 07 diện tích 329m²; năm 1999, hộ ông Nguyễn Văn T16 kê khai, UBND xã T26(nay là T, công khai, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trình cơ quan chuyên môn (phòng Địa chính) thẩm định trình UBND huyện Yký duyệt và cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa thứ nhất có số vào sổ cấp GCN Q324095 ngày 17/10/1999, thửa đất số 259, tờ bản đồ số 7 (bản đồ xã T10vẽ năm 1992) có diện tích 714m² có địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangmang tên hộ ông Nguyễn Văn T17 thứ hai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN Q324095 ngày 17/10/1999 đối với: Thửa đất số 260, tờ bản đồ số 7 có diện tích 329m² có địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangmang tên hộ ông Nguyễn Văn T18 đất nhà ông Nguyễn Văn T15 các vị trí tiếp giáp như sau: Phía Tây giáp rãnh thoát nước chung của tổ dân phố K giáp đường bê tông của tổ dân phố K giáp hộ nhà ông Nguyễn Văn D10 Bắc giáp hộ đường bê tông ngõ của tổ dân phố K

Năm 2018, bà Ngụy Thị M11 thủ tục phân chia và tách thửa đất trên để cho hai con trai là ông Nguyễn Văn A3 ông Nguyễn Văn P4 đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất ngày 05/11/2018 thì thửa đất số 259 của hộ ông Nguyễn Văn T19 làm 3 thửa: Thửa thứ nhất là 376,2m², thửa thứ hai là 154,3m², thửa thứ 3 là 183,5m²; thửa đất số 260 của hộ ông Nguyễn Văn T12 tách thành 02 thửa: Thửa thứ nhất là 173m², thửa thứ hai là 156,0m².

Căn cứ vào đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất và đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất của bà Ngụy Thị M12 Chi nhánh văn phòng Đđã tiến hành đo đạc chỉnh lý địa chính hiện trạng thửa đất và làm thủ tục tách thửa cho hộ ông Nguyễn Văn T20 hiện trạng sử dụng thửa đất và theo bản đồ địa chính chính quy năm 2002

Về nguồn gốc thửa đất đã cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Nguyễn Văn D12 2018 chỉnh lý tên chủ sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn Q25 nhận quyền phân chia tài sản. Thửa đất có nguồn gốc được hộ ông Nguyễn Văn D13 dụng ổn định vào mục đích đất ở từ trước năm 1990, năm 1992 được đo đạc bản đồ địa chính, năm 1999 hộ ông Q26 khai, UBND xã T26(nay là T, công khai, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trình cơ quan chuyên môn (phòng Địa chính) thẩm định trình UBND huyện Yký duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00573 QSDĐ/320 QĐ/UB-H ngày 17 tháng 10 năm 1999 đối với thửa số 262 và 261, tờ bản đồ số 7 có diện tích sử dụng 857m², trong đó 360m² đất ở, 211m² đất vườn và 286m² đất ao mang tên hộ ông Nguyễn Văn D14(bố ông Q20 đất có địa chỉ tại tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang(xét và cấp cùng đợt với hộ ông Nguyễn Văn T6

Năm 2018, ông Nguyễn Văn D15 phân chia quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Q21 hồ sơ 2051/2018 đối với toàn bộ thửa đất trên. Thửa đất nhà ông Q13 các vị trí tiếp giáp như sau: Phía Tây giáp hộ ông Nguyễn Văn T21 Đông giáp đường bê tông của thôn; Phía Nam giáp đường bê tông của ngõ; Phía Bắc giáp hộ nhà ông Nguyễn Văn A4 Quá trình từ lúc sử dụng thửa đất ổn định và lâu dài từ đó đến nay và thời điểm xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 1999 đất không có tranh chấp với các hộ xung quanh.

Ông Nguyễn Văn A34 kiện ông Nguyễn Văn Q27 nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Vị trí tranh chấp theo trích đo thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất thì được xác định như sau:

  • - Diện tích tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn A3 ông Nguyễn Văn Q28 với thửa 349 là 11,4m², toàn bộ diện tích 11,4m² hiện đang nằm trên phần diện tích thuộc quyền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên ông Nguyễn Văn Q29 sánh và đối chiếu với Hồ sơ thửa đất ngày 02/5/1999 của UBND xã T26(nay là T diện tích 11,4 m² này là đất ở.
  • Diện tích tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn A3 ông Nguyễn Văn Q28 với thửa 351 là 4,5m², toàn bộ diện tích 4,5m² hiện đang nằm trên phần diện tích trên Giấy chứng nhận của ông Nguyễn Văn Q29 sánh và đối chiếu với Hồ sơ thửa đất ngày 02/5/1999 của UBND xã T26(nay là T diện tích 4,5m² là đất ao.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B:

Về nguồn gốc đất: Năm 1999, hộ ông Nguyễn Văn T6(vợ là bà Ngụy Thị M1được Ủy ban nhân dân huyện Y chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN Q324095 ngày 17/10/1999 đối với Thửa đất số 259, tờ bản đồ số 7 có diện tích 714m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN Q324095 ngày 17/10/1999 đối với Thửa đất số 260, tờ bản đồ số 7 có diện tích 329m², có địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangđều mang tên hộ ông Nguyễn Văn T6

Quá trình sử dụng thửa đất ổn định và lâu dài từ đó và không có tranh chấp với các hộ xung quanh. Quá trình sử dụng đất năm 2018, bà Ngụy Thị M11 thủ tục phân chia và tách thửa đất trên để cho hai con trai là ông Nguyễn Văn A3 ông Nguyễn Văn P4 đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất ngày 05/11/2018 thì thửa đất số 259 của hộ ông Nguyễn Văn T19 làm 3 thửa: Thửa thứ nhất là 376,2m², thửa thứ hai là 154,3m², thửa thứ 3 là 183,5m²; còn thửa đất số 260 của hộ ông Nguyễn Văn T12 tách thành 02 thửa: Thửa thứ nhất là 173m², thửa thứ hai là 156,0m². Căn cứ vào đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất và đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất của bà Ngụy Thị M12 Chi nhánh văn phòng Đđã tiến hành đo đạc chỉnh lý địa chính hiện trạng thửa đất và làm thủ tục tách thửa cho hộ ông Nguyễn Văn T20 hiện trạng sử dụng thửa đất và theo bản đồ địa chính chính quy năm 2002.

Hộ ông Nguyễn Văn T12 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1999 với tổng diện tích là 1.043m², được cấp theo bản đồ địa chính chính quy năm 1993. Năm 2002, Nhà nước đã tiến hành đo đạc lại toàn bộ hiện trạng sử dụng đất của xã T đó có thôn KNăm 2018, bà Ngụy Thị Mlcó đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất và đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, Chi nhánh văn phòng Đđã tiến hành đo đạc hiện trạng sử dụng đất và giải thích cho bà Ngụy Thị M13 diện tích thực tế tăng so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc tách thửa đất sẽ cấp theo hiện trạng sử dụng và theo bản đồ địa chính chính quy năm 2002. Sau khi được nghe giải thích thì bà Ngụy T5 M1đồng ý làm thủ tục và đề nghị tách thửa theo đúng diện tích đã đã cấp năm 1999 là 1.043m².

Về trình tự, thủ tục tách thửa đất: Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Yđã làm đúng trình tự quy định và đề nghị Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngụy Thị M1ông Nguyễn Văn A3 ông Nguyễn Văn Pbà Vũ Thị T22 bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được bà Ngụy Thị Mlông Nguyễn Văn A35 ông Nguyễn Văn P1 Vũ Thị T2đồng ý và ký nhận. Sau khi bà Ngụy Thị M1ông Nguyễn Văn A35 ông Nguyễn Văn P1 Vũ Thị T2được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đồng ý và đến nay không có ý kiến gì về việc tách thửa này. Vì thửa đất của bà Ngụy Thị M10 cấp lại và tách thửa nên khi làm thủ tục tách thửa không cần ký giáp ranh của các hộ liền kề.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thu thập được các tài liệu chứng cứ như sau:

Tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc bằng máy, định giá tài sản đối với diện tích đất nhà ông Nguyễn Văn A35 ông Nguyễn Văn Q2 theo đề nghị của ông Nguyễn Văn A4

* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/4/2021:

  1. Thửa đất số 262 và 261, tờ bản đồ số 7 có diện tích 857m² có địa chỉ tại tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangmang tên ông Nguyễn Văn D14(tức hộ ông Nguyễn Văn Q30 đất có các vị trí tiếp giáp như sau:Phía Đông giáp đường bê tông của tổ dân phố K giáp đường bê tông của ngõ; phía Bắc giáp hộ bà Ngụy Thị M8 hộ ông Nguyễn Văn A36 Tây giáp hộ ông Nguyễn Văn T23

Trên đất có một số công trình sau 1 nhà ngang 4 gian lợp ngói xây dựng năm 1972,01 nhà chính 3 gian lợp ngói xây dựng năm 1976, 01 nhà lợp mái tôn xây dựng năm 2019 có diện tích khoảng 100m²,01 nhà hai tầng xây dựng năm 1984, 01 sân lát gạch lá nem, lát khoảng năm 2006, 01 ao cá và vườn. Toàn bộ thửa đất xây bao quanh bằng tường gạch.

  1. Thửa đất 349, tờ bản đồ số 8 có diện tích 183,5m², địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangmang tên Nguyễn Văn A30 các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp thửa 351 của ông A36 Tây giáp thửa 347 của cụ Ngụy Thị M14 bắc giáp đất của anh Nguyễn Văn P5 Nam giáp đất của anh Nguyễn Văn Q2
  2. Thửa 351, tờ bản đồ số 8 có diện tích 156m², địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangmang tên Nguyễn Văn A30 các cạnh tiếp giáp như sau:Phía Đông giáp đường bê tông của tổ dân phố K, thị trấn T giáp thửa 349 của ông A36 Bắc giáp thửa đất 350 của anh Nguyễn Văn P5 Nam giáp đất của anh Nguyễn Văn Q2

Trên hai thửa đất 349 và 351 có 01 nhà 1 tầng đổ trần bê tông cốt thép, có lợp tôn chống nóng. Ngôi nhà này xây dựng năm 2015 và xây trùm lên cả hai thửa đất 349 và 351. Phía trước nhà có 01 sân bê tông 4,6 x 4,1 =18,86m2.

Tại vị trí tranh chấp giữa nhà ông A35 nhà ông Q31 phần là rãnh thoát nước, một phần là trên nền sân bê tông nhà ông A

*Kết quả định giá ngày 13/4/2021:

  • - Đất ở tại vị trí tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangcó giá trị là 2.800.000 đồng/m²; ddất nuôi trồng thủy sản có giá trị là 40.000 đồng/m²; đất vườn có giá trị là 48.000 đồng/m²;đất trồng cây lâu năm 48.000 đồng/m2. Căn cứ giá chuyển nhượng thực tế tại tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangthì đất ở có giá trị là 7.000.000 đồng/ m².
  • - Về tài sản trên đất:
    • +Trên diện tích 4,5m2 đất thuộc thửa 351: Có một phần nhà kho anh Q4 dựng năm 2019, nhà ở cấp 4, tường xây gạch, mái lợp tôn chống nóng, khung vì kèo thép hộp kích thước 5,35x 15,65m = 83,73m² xây dựng năm 2019, giá trị 2.609.000 đồng/01m2x83,73m2 = 218.500. 000 đồng.
    • +Trên 11,4m2 đất thuộc thửa 349: Có 01 đoạn tường rào xây gạch, tường 110, xây dựng khoảng năm 2000, trị giá 3.500.000 đồng/01m²; tường cao 2,3m.

Ngoài ra trên diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 351 còn có 02 đoạn ống nhựa: 01 đoạn ống nhựa O 60 và 01 đoạn ống nhựa O 90 của nhà anh Q32 đặt năm 2012. Tuy nhiên tại buổi định giá các bên không đề nghị định giá đối với tài sản này nên Hội đồng định giá không xem xét.

Ngoài những tài sản trên thì các đương sự tham gia buổi định giá không đề nghị hội đồng định giá thêm bất kỳ tài sản nào khác.

Tại biên bản làm việc ngày 26/10/2021, ông Trần Văn M15 nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Ycung cấp:

Căn cứ vào Hợp đồng kỹ thuật giữa Chi nhánh văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng. Ngày 13/4/2021, ông đã tiến hành đo đạc với toàn bộ các thửa đất tranh chấp và đã cung cấp Trích đo thực tế hiện trạng sử dụng thửa đất cho Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng. Ông trình bày quan điểm về về sơ đồ trích đo hiện trạng sử dụng thửa đất như sau:

Về nguồn gốc sử dụng đất: Đối với diện tích đất hộ nhà ông Nguyễn Văn A30 nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn T7 bà Ngụy Thị M9(bố, mẹ đẻ ông ANăm 1999 hộ cụ Nguyễn Văn T5được UBND huyện Y Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000717 ngày 17/10/1999 với diện tích là 1.043m2. Năm 2018, cụ Nguyễn Thị M16 thủ tục tách thửa để tặng cho quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn A26 trình làm thủ tục tách thửa thì cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai có về kiểm tra, đo đạc diện tích thực tế và có giải thích với gia đình cụ M3là diện tích thực tế có tăng so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có giải trình lý do tăng là do sai số do thửa đất có giáp với đường bê tông của thôn và do gia đình có lấn sang rãnh thoát nước của thôn. Tuy nhiên gia đình bà M3không có nhu cầu cấp thêm diện tích mà đề nghị giữ nguyên diện tích như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 đã được cấp và tách thửa theo đúng diện tích đó.

Để đủ điều kiện tách thửa cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo đạc, chỉnh lý thửa đất đúng với diện tích và kích thước cạnh đúng với diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999. Sau khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn A33 2018 thì ông Nguyễn Văn A37 điều kiện được cấp hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 349 có diện tích là 183,5m² và thửa 351 có diện tích 156m².

Đối với hộ ông Nguyễn Văn Q33 nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn D14(bố đẻ anh Q19 được UBND huyện Ycấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00573 ngày 17/10/1999 có diện tích là 857m². Quá trình sử dụng đất ông Nguyễn Văn D16 làm thủ tục tặng cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Q10 vẫn giữ nguyên diện tích. Quá trình sử dụng đất thì ông Nguyễn Văn A35 hộ ông Nguyễn Văn Q33 xảy ra tranh chấp, ông Nguyễn Văn A30 đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn Q34 Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng để giải quyết vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng có yêu cầu Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Yvề đo đạc hiện trạng sử dụng đất đối với hai hộ. Sau khi đó đạc thực tế diện tích sử dụng của cả hai hộ nhà ông Nguyễn Văn A35 hộ nhà ông Nguyễn Văn Q35 diện tích của cả hai hộ đều tăng, cụ thể như sau:

  • + Đối với thửa số 349 của hộ ông Nguyễn Văn A38 tích được cấp là 183,5m², diện tích thực tế đo đạc là 183,7m2, diện tích chênh lên là 0,2m².
  • + Đối với thửa số 351 của hộ ông Nguyễn Văn A38 tích được cấp là 156m², diện tích thực tế đo đạc là 175m², diện tích chênh lên là 19m².
  • + Đối với thửa số 63 của hộ ông Nguyễn Văn Q36 tích được cấp là 857m², diện tích thực tế đo đạc là 897,1m², diện tích chênh lên là 40,1m².

Cụ thể kết quả đo đạc ngày 13/4/2021 đối với diện tích đất tranh chấp giữa hộ ông Nguyễn Văn A35 ông Nguyễn Văn Q33 tăng so với diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ:

  • -Đối với thửa số 349 của hộ nhà ông Nguyễn Văn A4

Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 1-2) là 23,3m; đo đạc thực tế (cạnh DD') là 25,6m. Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 2-3) là 1,51m; đo đạc thực tế (Cạnh D 1,5m. Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 3-4) là 13,39m; đo đạc thực tế (cạnh EE') là 13,9m. Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 4-5) là 12,44m; đo đạc thực tế (cạnh E'X') là 12,4m. Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 5-6) là 11,63m; đo đạc thực tế (cạnh X’K) là 11,6m. Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 6-7) là 10,24m; đo đạc thực tế (cạnh KI) là 10,7m.Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 7-8) là 2,34m; đo đạc thực tế (cạnh IH) là 1,8m.Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 8-9 -1) là 3,33m; đo đạc thực tế (cạnh HG) là 3,4m.

Như vậy, diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa số 349 của hộ ông Nguyễn Văn A39 183,5m², khi đo đạc thực tế thì diện tích đối với thửa số 349 của hộ ông Nguyễn Văn A40 lên là 183,7m22.

  • - Đối với thửa số 351 của hộ nhà ông Nguyễn Văn A4

Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 1-2) là 11,63m; đo đạc thực tế (cạnh KX') là 11,6m. Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 2-3) là 13,18m; đo đạc thực tế (cạnh X’M') là 14,8m. Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 3-4-5) là 11,76m; Đo đạc thực tế cạnh M’L = [(cạnh 3-4) + (cạnh 4-5)] là 11,9m.Theo Giấy CNQSDĐ (cạnh 5-1) là 13,61m; đo đạc thực tế (cạnh LK) là 15,2m.

Như vậy, diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa số 351 của hộ ông Nguyễn Văn A39 156m22, khi đo đạc thực tế thì diện tích đối với thửa số 351 của hộ ông Nguyễn Văn A40 lên là 175m².

  • -Đối với diện tích đất hộ nhà ông Nguyễn Văn Q2

Theo Giấy CNQSDĐ cạnh AB là 10,0m; đo đạc thực tế cạnh Q’J là 11,0m. Theo Giấy CNQSDĐ cạnh BC' là 5,0m; đo đạc thực tế cạnh JJ' là 5,4m. Theo Giấy CNQSDĐ cạnh C’C là 2,5 m; đo đạc thực tế cạnh J’V là 3,0m. Theo Giấy CNQSDĐ cạnh CD” là 1,0m; đo đạc thực tế cạnh VV' là 1,7m. Theo Giấy CNQSDĐ cạnh D'D là 15,0m; đo đạc thực tế cạnh V’B là 15,6 m. Theo Giấy CNQSDĐ cạnh DG là 22,0m. Theo Giấy CNQSDĐ cạnh GH' là 14,0m; Đo đạc thực tế cạnh BGHIKL là 37,7m.Theo Giấy CNQSDĐ cạnh H’H là 25,0m; đo đạc thực tế cạnh LMQ là 24,4m. Theo Giấy CNQSDĐ cạnh HA là 28,0m; đo đạc thực tế cạnh QQ' là 28,9m

Như vậy, diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với hộ ông Nguyễn Văn Q37 857m², khi đo đạc thực tế thì diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với hộ ông Nguyễn Văn Q37 897,1m².

Theo kết quả đo đạc thực tế hiện trạng đối với ba thửa 349, thửa 351 và thửa 63 của hộ ông Nguyễn Văn A35 hộ ông Nguyễn Văn Q35 thấy diện tích của ba hộ đều tăng, lý do tăng là do các nguyên nhân sau:

  • + Thực trạng sử dụng của các hộ khi sử dụng đất có lấn thêm phần rãnh thoát nước của thôn ở xung quanh đất và lấn thêm diện tích đường giao thông và đường ngõ nên diện tích có chênh lên so với diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy các cạnh của các thửa đất đều tăng và tăng đều xung quanh thửa đất.
  • + Đối với hộ ông Nguyễn Văn A41 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2018 là cấp theo diện tích cũ từ năm 1999, khi làm thủ tục cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2018 hộ ông Nguyễn Văn A42 có nhu cầu cấp thêm diện tích theo thực tế sử dụng mặc dù đã được cán bộ đo đạc giải thích.
  • + Đối với hộ ông Nguyễn Văn Q36 tích được đo đạc từ năm 1999, khi đó phương pháp đo đạc thủ công nên không được chính xác, khi đo đạc lại hiện nay thì được đo đạc bằng phương pháp đo máy nên diện tích thực tế sử dụng được đo đạc chính xác.

Đối với diện tích đất tranh chấp xác định theo trích đo thửa đất thì được xác định như sau:

Diện tích tranh chấp giữa hộ ông Nguyễn Văn A35 hộ ông Nguyễn Văn Q28 với thửa 349 là 11,4m², toàn bộ diện tích 11,4m² này hiện đang nằm trên phần diện tích nhà ông Nguyễn Văn Q29 sánh và đối chiếu với Hồ sơ thửa đất ngày 02/5/1999 của UBND xã T26(nay là T diện tích 11,4m² này là đất ở.

Đối với đoạn GI (theo trích đo hiện trạng thửa đất) là bờ tường xây gạch do gia đình ông Q4 có diện tích là 5,2 (dài) x 2,3 (rộng) = 11,96m².

Diện tích tranh chấp giữa hộ ông Nguyễn Văn A35 hộ ông Nguyễn Văn Q28 với thửa 351 là 4,5m², toàn bộ diện tích 4,5m² này hiện đang nằm trên phần diện tích nhà ông Nguyễn Văn Q29 sánh và đối chiếu với Hồ sơ thửa đất ngày 02/5/1999 của UBND xã T26(nay là T diện tích 4,5m² này là đất ao, trên diện tích này có nhà để xe.

Tại biên bản làm việc ngày 08/3/2022, ông Đỗ Văn S bộ địa chính Ủy ban nhân dân thị trấn T:

Đối với vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn A35 ông Nguyễn Văn Q38 đo đạc hiện trạng thửa đất của ông A43 Qthì thấy diện tích của các hộ đều tăng. Nguyên nhân của việc tăng diện tích của các hộ là do trước đây đo đạc theo phương pháp thủ công, hiện nay đo đạc bằng máy móc phân tích nên diện tích sử dụng của các hộ sẽ được chính xác hơn.

Theo bản đồ địa chính chính quy năm 2002 của UBND thị trấn T(nay là T bản đồ số 8, đo vẽ năm 2002, tỷ lệ 1/1000 thì hiện trạng các thửa đất được xác định như sau:

  • + Thửa số 63 có diện tích 891,3m² là hộ ông Nguyễn Văn D14
  • + Thửa số 55 có diện tích 1093,4m² là hộ ông Nguyễn Văn T6

Bản đồ địa chính chính quy đo vẽ năm 2002 đã thể hiện đúng hiện trạng sử dụng đất của các hộ và thay thế cho bản đồ địa chính chính quy năm 1993. Quá trình đo đạc bản đồ địa chính chính quy thì không cho các hộ ký giáp ranh. Chỉ khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới cho các hộ liền kề ký giáp ranh.

Đối với các hộ khi xảy ra tranh chấp có trình bày ranh giới tiếp giáp giữa các hộ trước kia có rãnh thoát nước. Tuy nhiên, trên bản đồ địa chính chính quy năm 1993 và 2002 đều không thể hiện rãnh thoát nước chung. UBND thị trấn Tđề nghị Tòa án căn cứ sổ địa chính, bản đồ địa chính chính quy và Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất của các hộ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 12A/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng đã quyết định:

Căn cứ khoản 5, khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai; Điều 164, Điều 175 Bộ luật dân sự; khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 3 điều 218; Điều 238, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

X

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A44 việc buộc anh Nguyễn Văn Q3 tháo dỡ tường bao có chiều dài 4,6m (đoạn D3X trên sơ đồ); di dời đường thoát nước thải trên phần đất 4,7m² lấn chiếm trái phép, chấm dứt việc xả thải sang nhà ông A45 lại ông Nguyễn Văn A46 đất là hình được xác định bởi các điểm X,Y,D3 tại thửa đất số 259, tờ bản đồ số 7 ( nay là thửa 349, tờ bản đồ số 8) tại Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangcó sơ đồ kèm theo bản án).
  2. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A44 việc buộc anh Nguyễn Văn Q39 lại phần diện tích đất 0,9m² là hình được xác định bởi điểm EB3 tại thửa đất số 260, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 351, tờ bản đồ số 8) tại Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangvà việc yêu cầu anh Q40 dỡ nhà để xe trên diện tích lấn chiếm.

Ngoài ra bản án còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, về quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/7/2024, anh Nguyễn Văn Q41 đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn A47 nguyên yêu cầu khởi kiện, căn cứ chứng minh là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, bản đồ địa chính năm 1993, năm 2002.Trên phần diện tích 4,7m² đất ông yêu cầu buộc gia đình anh Q39 có bức tường dài 4,6m và ống nước thải sinh hoạt, ngoài ra không có gì.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Q42 nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Gia đình anh không lấn chiếm đất của gia đình ông A, căn cứ là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình anh, bản đồ số hóa năm 2002. Trên phần diện tích đất ông A48 gia đình anh trả có bức tường dài 4,6m và ống nước thải sinh hoạt, ngoài ra không có gì.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q42 nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q2, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân huyện Y
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn Q2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q2 làm trong thời hạn, theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên là đơn kháng cáo hợp lệ. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.
  3. Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q35 thấy:

Nguồn gốc thửa đất số 349, tờ bản đồ số 8, diện tích 183,5m² và thửa đất số 351, tờ bản đồ số 8, diện tích 156m² được tách ra từ thửa đất số 259, tờ bản đồ số 7, diện tích 714m² và thửa đất số 260, tờ bản đồ số 7, diện tích 329m² đều có địa chỉ tại:Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giangcủa cụ Nguyễn Văn T6 và cụ Ngụy Thị M9 (bố mẹ đẻ ông A Nguồn gốc thửa đất số 262 và 261, tờ bản đồ số 7, diện tích 857m² có địa chỉ tại: Tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang của anh Nguyễn Văn Q2 là của cụ Nguyễn Văn D14 – cụ Chu Thị C5 đất của cụ T5cụ Dđã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1999.

Theo bản đồ địa chính năm 1993 thì ranh giới thửa đất số 259, 260 của cụ T6(cụ Mlông Avà thửa đất 261, 262 của cụ D là đường thẳng (BL 238). Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ T5cụ Dnăm 1999 thì tại hồ sơ thửa đất lập ngày 02/5/1999 của hộ cụ Nguyễn Văn T6(bố ông A49 sơ thửa đất lập ngày 02/5/1999 của hộ cụ Nguyễn Văn D17 ranh giới thửa đất số 259, 260 của cụ T6(Muồn) với thửa đất 261, 262 đất của cụ D(Qlà đoạn GG’D trong đó đoạn GG' có chiều dài 13m nối tiếp đoạn G’D có chiều dài 22m, là đường thẳng kéo từ ngoài đường thôn vào (BL 220, BL 229). Đại diện chủ hộ giáp ranh (cụ T5cụ Dđều ký xác nhận ranh giới vào hồ sơ thửa đất của mỗi gia đình. Như vậy, việc lập hồ sơ thửa đất tại thời điểm các đương sự đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 là phù hợp với bản đồ địa chính năm 1993. Do đó, có căn cứ để khẳng định: Ranh giới giữa thửa đất số 259, 260 của cụ T6(cụ M1ông Avà thửa đất 261, 262 của cụ D18 đoạn thẳng. Trên bản đồ địa chính năm 1993, năm 2002 và trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự đều không thể hiện ranh giới giữa các thửa đất có rãnh thoát nước chung nên anh Q10 các thành viên trong gia đình anh Q43 ranh giới giữa các thửa đất được ngăn cách bởi rãnh thoát nước các hộ sử dụng chung là không có căn cứ (BL 238, 287,288). Phần các đương sự khai là rãnh thoát nước là phần đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Mlông Ađã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 135/DS-PT ngày 29/10/2021 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là cụ Ngụy Thị M9(mẹ đẻ ông A50 bị đơn anh Nguyễn Văn Q10 ông Nguyễn Văn T24 án nhân dân tỉnh B đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ lại, yêu cầu cơ quan chuyên môn tiến hành số hóa bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993, năm 2003, chồng ghép kết quả đo đạc hiện trạng với kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 (theo bản đồ đo đạc năm 1999 và bản đồ năm 2003) của thửa đất số 259, thửa 260 tờ bản đồ số 7 năm 1993 của cụ M9(Tắm) và thửa đất số 261, 262 của anh Q(D). Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ lại ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thể hiện ranh giới đất của cụ M9(hiện ông A27 sử dụng) với đất ông D(anh Q18 sử dụng) đã bị thay đổi từ đoạn thẳng thành hình vòng cung theo hướng từ đất anh Q44 đất của ông A10 ký hiệu hình D3XY; thửa đất số 261, thửa 262 của anh Q tăng 40m² là do anh Q17 một phần diện tích thuộc thửa đất số 349 của ông A39 các điểm D3, X, Y trên sơ đồ có diện tích 4,7m². Trên diện tích đất 4,7m² (D3XY) hiện có đoạn tường bao do gia đình anh Q4 là có chiều dài: (1+1,6+0,9+0,7= 4,6m (đoạn D3X) và ống thoát nước thải sinh hoạt chảy tự do sang đất nhà ông A

Theo cung cấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y năm 2018 khi làm thủ tục tách thửa theo đề nghị của cụ M1cán bộ Chi nhánh Vđã thực hiện đo đạc diện tích theo thực tế năm 2018 nhưng khi thực hiện tách thì chỉnh lý thửa đất với diện tích và kích thước cạnh đúng với diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999, hộ cụ M1không ký giáp ranh lại với các hộ dân xung quanh và cũng chưa làm thủ tục để chỉnh lý biến động về ranh giới, hình thể thửa đất theo hiện trạng hoặc bản đồ địa chính được lập sau này.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa sơ thẩm đã tiến hành đo đạc, thẩm định tại chỗ thửa đất số 259, thửa 260 của cụ M1(Tắm) và thửa đất số 261, 262 của anh Q(D). Quá trình giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 135/DS-PT ngày 29/10/2021 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là cụ Ngụy Thị M9(mẹ đẻ ông A50 bị đơn anh Nguyễn Văn Q10 ông Nguyễn Văn T24 án nhân dân tỉnh B đã tiến hành đo đạc thẩm định tại chỗ thửa đất số 259, thửa 260 (đã được tách thành các thửa 347, 348, 349, 350, 351) và thửa đất số 261, 262 của anh Q(D). Kết quả đo đạc là phù hợp với chứng cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh Qđề nghị đo đạc thẩm định lại nhưng không đưa ra được căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đề nghị này của anh Q

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy, Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A39 có căn cứ theo khoản 5, khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai 2013; Điều 164, Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015. Tại cấp phúc thẩm, anh Nguyễn Văn Q45 cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo của anh Q46 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

  1. Năm 2018 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ythực hiện tách thửa đất số 259 của cụ M1thành 03 thửa là 347, 348, 349 trên cơ sở hiện trạng thửa đất và bản đồ địa chính năm 2002, theo kết qua giám định chữ viết của Phòng K1Công an tỉnh B thì cụ M1không ký hồ sơ tách thửa. Do vậy, việc tách thửa của Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện Ykhông đúng quy định tại Điều 9 của thông tư số 24/2014/TT – BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T30. Tuy nhiên, cụ M1vẫn đồng ý tách đất để tặng cho ông A43 Pmột phần thửa đất 259 nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Sở Tđã cấp cho cụ Mlông Aông Pvì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ M1theo bản án của Tòa án vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn Q3 chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q42 nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12A/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn Q3 chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005284 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũngtỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Văn Q2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Toà án nhân dân huyện Yên Dũng;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Cổng thông tin điện tử của TAND tối cao:
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2024/DS- PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 203/2024/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa A và Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger